- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh T và Đỗ Thu P cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:38 /2023/HSST Ngày: 27/02/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn và ông Phan Minh T
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/02/2023, tại trụ sở TAND quận N, thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2023/TLST-HS ngày 14/02/2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Anh T, sinh năm 1999; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố số 4, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Trần Quý H và bà Phí Thị S
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 26/8/2022. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 4087B2/19 - Có mặt
2. Đỗ Thu P, sinh ngày 21/01/2004; Giới tính: Nữ
Nơi ĐKNKTT: Xóm 2, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Tổ dân phố số 4, phường C, quận B
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên bố: Không xác định; Họ tên mẹ: Đỗ Thị S
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 26/8/2022. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 4115B2/M1-2 - Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo bị VKSND quận N, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Trần Anh T và Đỗ Thu P là người yêu của nhau. Vào khoảng 00h ngày 25/8/2022, P nhận được điện thoại của “Phạm Đăng Thái” (không rõ nhân thân lai lịch, là bạn xã hội của P gọi qua ứng dụng Messenger) nhờ mua cho Thái 05 viên ma túy “kẹo”, P đồng ý và nhắn tin cho Trần Anh T bảo T đi mua 05 viên ma túy “Kẹo” cho Thái. T đồng ý, sau đó T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Vinh (không rõ nhân thân lai lịch, là bạn xã hội của T) hỏi chỗ mua ma túy và được Vinh cho số điện thoại 0398922250. T gọi điện đến số điện thoại trên giới thiệu là em của Vinh và hỏi mua 05 viên ma túy “Kẹo”, người này đồng ý bán và báo giá 350.000đ/01 viên rồi hẹn giao ma túy cho T ở khu vực gần ngã tư Nhổn (Hoài Đức, Hà Nội). Sau đó, T điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29L5-26823 đi từ nhà đến gần ngã tư Nhổn và gọi cho người bán thì được hẹn đến đầu ngõ 80 đường Xuân Phương, phường Phương Canh, N, Hà Nội nhận. Tại đây, có một người thanh niên điều khiển xe máy (không rõ BKS) đi đến gần chỗ T và ném xuống vệ đường 01 gói giấy ăn màu trắng (bên ngoài bọc băng dính trắng) bên trong có 05 viên ma túy kẹo hình tam giác màu tím, do chưa có tiền trả nên T gọi và bảo với người bán sẽ chuyển khoản tiền mua ma túy sau. Người bán đồng ý rồi đọc cho T số tài khoản 12410003160543, ngân hàng BIDV mang tên NGUYEN MINH PHUONG. Sau khi mua được ma túy T quay về quán Karaoke ở gần trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm đón Đỗ Thu P. Tại đây P đã chuyển cho T số tiền 1.750.000đ để T chuyển khoản cho người bán ma túy. Sau đó P gọi điện (Messenger) cho Thái hẹn giao ma tuý ở khu vực ngã tư Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. T chở P đến điểm hẹn nhưng không liên lạc được với Thái nên cả hai mang ma tuý đi về nhà T ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm để cất giữ. Khoảng 15 giờ ngày 25/8/2022, khi Đỗ Thu P đang ở cùng T tại nhà T (tổ dân phố số 4, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) thì có một người phụ nữ sử dụng số điện thoại 0784458386 gọi đến điện thoại của T thì P nghe máy thì người đầu dây bên kia nói: “Chị ơi, em là bạn anh Thái, chị có 4 viên kẹo và ke không chị ship cho em”, P trả lời: “Chị ơi, bọn em không có ke, chỉ còn mấy viên hôm qua anh Thái nhờ lấy cho chị đấy”, thì người này nói “Vậy à, đợi chị gọi lại”; ngay sau đó thì Thái gọi vào điện thoại của T, P nghe điện thoại. Thái nói: “bạn anh đấy, em đem xuống hộ anh nhé, cái con mà bùng mấy viên kẹo hôm qua đấy, anh tức nó lắm”, P đồng ý. Sau đó khoảng 5 phút sau thì người phụ nữ lúc trước gọi lại cho P nói: “đem xuống hộ chị 03 viên kẹo”, lúc này P bật điện thoại loa ngoài để cho T cùng nghe, người này hỏi giá bao nhiêu một viên thì T báo giá là 400.000đ/01 viên, thêm 400.000đ tiền ship tổng là 1.600.000đ/03 viên, người này nói: “ok, ship xuống cho chị rồi chị nhắn tin địa chỉ”. Ngay sau đó người mua nhắn địa chỉ “Ngõ 160 Tây Mỗ”, P hiểu ý là phải ship ma túy đến ngõ 160 Tây Mỗ để giao dịch. Lúc này, T lấy từ trong túi đeo chéo gói được bọc bằng giấy ăn màu trắng bên trong có 5 viên ma túy kẹo đã mua trước đó mở ra thì thấy 02 viên bị vỡ 03 viên nguyên vẹn, T chia ra làm 2 gói, một gói chứa 3 viên ma túy nguyên vẹn và đưa cho Thu P cầm để mang đi ship cho bạn của Thái còn gói 2 viên bị vỡ vụn thì T cho vào bồn cầu và xả nước. Sau đó, T điều khiển xe máy BKS: 29L5-268.23 chở P đi giao ma túy, trên đường đi thì người mua có hỏi xin số của “Ship” thì T trả lời là gọi luôn vào số này này, ý là anh T đang đi ship, sau đó người mua hẹn T và P đến Tây Mỗ. Khi T và P đến Tây Mỗ, đối diện số nhà 10 thì bị Công an phường Tây Mỗ dừng xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
1.Thu giữ của Trần Anh T:
+ 01 điện thoại Xiaomi 10T lite, imeil 1: 864025052704857, Imeil 2: 864025052704865, màu xanh;
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-26823, số máy: 3A39E0287963, số khung: 3904HY287927;
2. Thu giữ của Đỗ Thu P:
+ 03 viên nén hình tam giác màu tím được gói trong giấy ăn màu trắng;
+ 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, số seri: DNPZPKRPN72J;
Tại bản kết luận giám định số 6005 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hà Nội, xác định:
+ 03 viên nén hình tam giác màu tím đều là ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 1,348 gam.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 13/02/2023 của VKSND quận N, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Anh T và Đỗ Thu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 BLHS;
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với các bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với mỗi bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX tuyên bố hai bị cáo Trần Anh T và Đỗ Thu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo T, P mỗi bị cáo từ 33 đến 39 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho 02 bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
Tại phiên tòa, hai bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 39 ngày 13/02/2023 của VKSND quận N đã truy tố các bị cáo. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với các bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Không có bị cáo nào tranh luận với lời luận tội của vị đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ và lời khai trước đây của các bị cáo có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/8/2022, tại trước cửa nhà đường Tây Mỗ, phường Tây Mỗ, quận N, Hà Nội, Trần Anh T và Đỗ Thu P đang có hành vi mang 1,348 gam ma túy loại MDMA để bán cho khách thì bị Tổ công tác Công an phường Tây Mỗ phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Trực tiếp hủy hoại sức khỏe đối với người sử dụng, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.
Xét đây là vụ án có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn; Xác định vai trò của bị cáo T tích cực hơn bị cáo P.
Về nhân thân của các bị cáo: Hai bị cáo đều lần đầu phạm tội nhưng phạm tội nghiêm trọng.
Xét cần xử phạt mỗi bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã gây ra. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo phạm tội lần đầu, làm lao động tự do, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung “Phạt tiền” cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của các bị cáo.
Liên quan trong vụ án còn có đối tượng nam thanh niên không quen biết bán ma túy cho Anh T tại khu vực ngõ 80 đường Xuân Phương, phường Phương Canh, quận N với giá tiền là 1.750.000đ. Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải T chỉ địa điểm mua ma túy và rà soát địa bàn, nhân chứng, camera nhưng không xác định được người đã bán ma túy cho T. Xác minh số tài khoản 12410003160543, ngân hàng BIDV xác định chủ tài khoản là Nguyễn Minh P (SN: 2002, HKTT: TDP 2 Tu Hoàng, P Canh, quận N). Tại cơ quan điều tra anh P khai lập tài khoản trên từ tháng 10/2020. Từ khoảng tháng 5/2022 đến tháng 9/2022 P cho anh trai là Nguyễn Minh K (SN: 1997, HKTT: TDP 2 Tu Hoàng, phường P Canh, quận N. Hiện đang bị Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội khởi tố, tạm giam về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) mượn, sử dụng tài khoản ngân hàng trên để giao dịch. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh K khai sử dụng sim số 0398922250 và tài khoản ngân hàng này để thực hiện các giao dịch trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 9/2022. K thừa nhận giao dịch chuyển số tiền 1.750.000đ vào rạng sáng ngày 25/8/2022 là của mình nhưng không nhớ là giao dịch về nội dung gì và không thừa nhận việc bán ma túy cho T. Tiến hành nhận dạng cả T và K đều không nhận dạng được nhau. Do đó không đủ cơ sở để xác định K là người bán cho T số ma túy nói trên nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với khách gọi điện mua ma túy của T và P, Cơ quan Công an đã rà soát quanh khu vực ngõ 160 đường Tây Mỗ, phường Tây Mỗ nhưng không xác định được người này. Xác minh số điện thoại 0784458386 xác định chủ thuê bao là anh Lê Xuân Huy (SN: 21/7/1987, HKTT: xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ). Tại cơ quan điều tra, anh Huy khai không đăng ký và sử dụng sim số này, không biết ai là người đăng ký và sử dụng. Do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với nam thanh niên tên Thái, Vinh: Tiến hành kiểm tra các tài khoản Messenger tên “Vinh” và “Phạm Đăng Thái” nhưng không xác định được thông tin về các đối tượng. Do P và T không rõ nhân thân lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Đối với chiếc xe máy hiệu Honda Wave gắn BKS: 29L5-26823, SK: 3904HY287927, SM: JA39E0287963: Xác minh xe xác định chủ sở hữu là chị Phí Thị Sáng (SN: 12/6/1977, HKTT: TDP 16, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội – mẹ ruột của T). Tại cơ quan điều tra, chị Sáng khai cho con trai là Trần Anh T mượn chiếc xe máy trên vào khoảng giữa tháng 8/2022 để đi giải quyết việc cá nhân, việc T sử dụng chiếc xe làm P tiện để đi mua bán trái phép chất ma túy thì chị Sáng không biết. Tra cứu tại phòng PC02- Công an TP Hà Nội xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, do vậy ngày 13/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại chiếc xe nói trên cho chị Phí Thị Sáng. Sau khi nhận lại xe chị Sáng không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Anh T và Đỗ Thu P cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt:
1. Trần Anh T 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2022.
2. Đỗ Thu P 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2022.
Tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen gắn thẻ sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 10T Lite màu xanh gắn thẻ sim; Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Số ma túy được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của Đỗ Thu P và giám định viên. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 125 ngày 27/02/2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận N, Hà Nội).
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND thành phố Hà Nội -VKSND cùng cấp - Thi hành án, Công an quận - Các bị cáo - Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Vinh |