vanban.org

Bản án 38/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Mạnh T và Nguyễn Dinh L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: - Phạm Mạnh T 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Nguyễn Dinh L 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Mạnh T và Nguyễn Dinh L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HSST
Ngày 18/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Hà Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phạm Mạnh T sinh năm 1992; tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hộ khẩu thường trú xóm 1, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư ở hiện nay xóm 10, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn V và bà Bùi Thị T; vợ Nguyễn Thị N và có 01 con. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Lịch sử bản thân ngày 10/12/2014 bị Công an huyện Y xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh nhau. Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Dinh L sinh năm 1922; tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm 2, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị N; vợ Nguyễn Thị H chưa có con. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

T sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus số sim thuê bao 0565935520 đăng nhập tài khoản Zalo “Gà”; L sử dụng điện thoại Iphone 6S plus số sim thuê bao 0988718670 đăng nhập tài khoản Zalo “Thanh Luy”. Ngày 04/4/2023 các bị cáo nhắn tin cho nhau qua tài khoản Zalo để mua bán số Lô với nhau.

Việc mua bán và trả thưởng số Lô là dựa vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc trả thưởng cùng ngày, hình thức chơi số Lô là người chơi chọn 02 số bất kỳ (gọi là 01 điểm) là 21.900 đồng, nếu trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải xổ số nào thì được trả thưởng 80.000 đồng/1 điểm; việc mua bán cụ thể như sau:

T đã bán cho L các số Lô Hà Nội gồm “01, 04, 61, 63” mỗi số 50 điểm thành tiền là 4.380.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày L trúng thưởng các số Lô “01, 04” thành tiền trúng thưởng là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo mua bán và trúng thưởng là 12.380.000 đồng. Các bị cáo chưa thanh toán tiền mua bán và trả thưởng cho nhau.

Cáo trạng số 35/CT-VKSYK ngày 28/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo T và L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày Luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo T và L phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo T từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; bị cáo L từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus số sim thuê bao 0968145132, 01 điện thoại Iphone 6S plus số sim thuê bao 0988718670; riêng 02 sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy. Buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền sử dụng để mua số Lô là 4.380.000 đồng; bị cáo T phải nộp lại số tiền sử dụng để trả thưởng số Lô là 8.000.000 đồng; để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Phạm Mạnh T và Nguyễn Dinh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. .

Các bị cáo T và L đều khai: Ngày 04/4/2023 có nhắn tin qua điện thoại mua bán số Lô với nhau với tổng số tiền mua bán và trúng thưởng là 12.380.000 đồng. Nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, hành vi của các bị cáo và nội dung tin nhắn trong các điện thoại đã thu giữ của các bị cáo; nên có đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 04/4/2023 T bán cho L số Lô Hà Nội với tổng số tiền là 4.380.000 đồng; đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày L trúng thưởng với số tiền là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền T và L mua bán số Lô và trúng thưởng là 12.380.000 đồng.

Hành vi tự mua bán và trả thưởng số Lô cho nhau với tổng số tiền là 12.380.000 đồng của các bị cáo T và L là trái pháp luật, hành vi của các bị cáo T và L đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321 Tội Đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo T, L về tôi danh và điều luật như Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo T là người bán số Lô nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo L là người mua số Lô nên giữ vai trò thứ hai.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T và L đều không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo T và L đều “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những tình tiết nêu trên, thấy rằng: Các bị cáo T và L đều phạm tội ít nghiêm trọng, đều có nhân thân tốt, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải; nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo; bị cáo T giữ vai trò thứ nhất nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo L. Các bị cáo T và L đều có hai tình tiết giảm nhẹ, nên giảm nhẹ một phần về hình phạt cho các bị cáo, tương ứng với số tình tiết giảm nhẹ mà mỗi bị cáo được hưởng.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “01 điện thoại Iphone 7 Plus số sim thuê bao 0968146132, 01 điện thoại Iphone 6S plus số sim thuê bao 0988718670”. Cả hai chiếc điện thoại các bị cáo đều sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; sim thuê bao 0968146132 của T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng T không yêu cầu trả lại, nên cả 02 sim điện thoại đều tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền L sử dụng để mua số Lô Đề là 4.380.000 đồng và số tiền T sử dụng để trả thưởng số Đề là 8.000.000 đồng. Hai bên chưa thanh toán tiền cho nhau, nên buộc T và L phải nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo T và L đều bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Mạnh T và Nguyễn Dinh L phạm tội “Đánh bạc”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: - Phạm Mạnh T 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

- Nguyễn Dinh L 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng).

3. Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại Iphone 7 Plus số sim thuê bao 0968146132; 01 điện thoại Iphone 6S plus số sim thuê bao 0988718670; riêng 02 sim điện thoại đang lắp trong 02 điện thoại thì tịch thu tiêu hủy. Vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.

- Buộc bị cáo Nguyễn Dinh L phải nộp lại số tiền sử dụng để mua số Lô là 4.380.000 đồng (bốn triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Buộc bị cáo Phạm Mạnh T phải nộp lại số tiền sử dụng để trả thưởng số Lô là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Mạnh T và Nguyễn Dinh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ