- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đình H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vương Đình H (tên gọi khác là Hải N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B Bản án số: 38/2023/HSST Ngày: 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X,
TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Khanh
2. Bà Ngô Thị Thúy Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ- Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Vương Đình H (tên gọi khác là Hải N), sinh ngày 07-5-2004 tại tỉnh B. Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Đình L, sinh năm 1984 và bà Phan Thị Định K, sinh năm 1984; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không, tạm giam ngày 15-11-2022, có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Định K, sinh năm 1984. Trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh B. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 38 phút ngày 15/11/2022, Vương Đình H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 72G1-732.10 đến khu vực gần nhà nghỉ T2, thị trấn P, huyện X, tỉnh B gặp người tên T (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy giá 400.000đ. Sau khi mua ma túy, H điều khiển xe về đến ấp D, xã B, huyện X, tỉnh B thì bị Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm huyện X, Công an xã B, huyện X với Đ1 tuần tra phát hiện, nghi vấn và kiểm tra thì H lấy trong túi quần ra nộp cho cơ quan chức năng 01 gói ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,4213 gam.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vương Đình H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định số 463/KL-KTHS-MT ngày 20-11-2022 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng có hình dấu của “Đồn Biên phòng Đ1-Bộ CHBĐBP tỉnh B”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Minh T1, Vương Đình H, Trương Mạnh H1, Nguyên Văn N1, Cao Ngọc N2, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu-trong suốt giám định có khối lượng 0,4213 gam là ma túy, loại Methamphetamine (bút lục số 52).
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 72G1-732.10 do bà Phan Thị Đ Kim mẹ ruột của H đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà K; 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, bên trong có sim số xxxx.xxx.xxx và sim số xxxx.xxx.xxx Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đang tạm giữ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo yêu cầu xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và sim số xxxx.xxx.xxx; hoàn trả cho bị cáo sim số xxxx.xxx.xxx.
Tại Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-XM, ngày 08-5-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố Vương Đình H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vương Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 14 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu vàng được niêm phong số vụ 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và sim số xxxx.xxx.xxx; hoàn trả cho bị cáo sim số xxxx.xxx.xxx.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Vương Đình H: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Khoảng 12 giờ 38 phút ngày 15/11/2022, tại khu vực ấp D, xã B, huyện X, tỉnh B, Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm huyện X, Công an xã B cùng với Đ1 tuần tra phát hiện bị cáo H cất giấu trong túi quần 01 gói ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,4213 gam. Hành vi bị cáo cất giấu ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy, bị cáo nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và sim số xxxx.xxx.xxx, do bị cáo dùng vào việc mua ma túy; hoàn trả cho bị cáo sim số xxxx.xxx.xxx.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và sim số xxxx.xxx.xxx; hoàn trả cho bị cáo sim số xxxx.xxx.xxx là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vương Đình H (tên gọi khác là Hải N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Vương Đình H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 463 ngày 21/11/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và sim số xxxx.xxx.xxx;
- Hoàn trả cho bị cáo Vương Đình H sim số xxxx.xxx.xxx.
(Toàn bộ vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân huyện X đang tạm giữ Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 50/BB ngày 09/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện X).
Án phí: Bị cáo Vương Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - Công an tỉnh B; - Sở Tư pháp tỉnh B; - VKSND huyện X; - Công an huyện X; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phạm Trần Hiển |