vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và bà Vũ Thị Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.

Những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến:

1. Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh.

2. Ông Nguyễn Văn Trí – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh.

3. Ông Nguyễn Huy Phúc – Cán bộ trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến. Tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Toà án nhân dân thành phố Chí Linh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đối với vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh năm 2001 tại huyện V, tỉnh Lào Cai;

HKTT: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Thanh N và bà Nguyễn Thị T; tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 127/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Trần Văn Q 26 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Q chấp hành xong án phí ngày 27/12/2019, chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/4/2021.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC ngày 25/7/2019 của công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền. Q đã chấp hành xong từ ngày 14/8/2019.

Bị bắt, tạm giữ ngày 19/12/2022, chuyển tạm giam ngày 21/12/2022 tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương; Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Anh Đoàn Văn T và anh Nguyễn Đức K. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 18/12/2022, Trần Văn Q đi xe ôm từ nhà trọ ở khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đến khu dân cư số 5 T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng. Khi đi tới nơi Q xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch, địa chỉ Q hỏi “có không, để cho em ba triệu” ý là hỏi người đàn ông có ma túy thì bán cho Q số tiền 3.000.000 đồng, người đàn ông nói “ừ”. Q đưa cho người đàn ông này số tiền 3.000.000 đồng, người đàn ông đưa cho Q số 01 gói ma túy đựng trong 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ. Sau khi mua được ma túy Q cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, khi Q đi đến đoạn rìa đường Quốc lộ 18, trước cửa số nhà 288 đường L, khu dân cư số 5 T, phường P, thành phố C thì bị công an thành phố Chí Linh bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Q 01 túi nilong mầu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (8x5)cm, bên trong chứa 02 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, đều có kích thước (2.5x2.5)cm, bên trong mỗi túi đều chứng chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng trong 02 túi nilon màu trắng, viền khóa mầu xanh được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là 1,220 gam là ma túy, loại Ketamine.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-CL ngày 27/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 18-21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 1,106g ma tuý loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 02 túi nilon màu trắng viền khoá màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, tại trước cửa nhà số 288 đường L, khu dân cư số 5 T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Trần Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép tại lòng bàn tay phải 1,220 gam ma túy, loại Ketamine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Chất ma tuý có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Ma tuý không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm, nhằm răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người mua ma túy về sử dụng không bán lại nhằm mục đích kiếm lời, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 1,106g ma tuý loại Ketamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 02 túi nilon màu trắng viền khoá màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người xe ôm chở Q và người đàn ông bán ma túy cho Q quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 1,106 gam ma tuý loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 02 túi nilon màu trắng viền khoá màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều được niêm phong trong phong bì số 24/KL-KTHS (Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ