vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo LÊ TÂN H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo LÊ TÂN H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 12 năm 2022. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 38/2023/HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo LÊ TÂN H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày: 11-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thúy Hà.

2. Ông Vương Minh Tân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang và Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ TÂN H, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1971, tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Tổ dân phố 13, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lê Văn L (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L (đã chết).

Anh, chị, em ruột: Có 09 người, bị cáo là thứ năm.

Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1977 (đã ly hôn).

Con: 01 người con sinh năm 1997.

Tiền án: + Bản án số 21/2017/HSST, ngày 07/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018);

+ Bản án số 75/2019/HSST, ngày 27/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022);

- Tiền sự: + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 454/QĐ-XPHC, ngày 16/6/2022 của Công an phường A, thành phố T, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 471/QĐ-XPHC, ngày 05/12/2022 của Công an phường A, thành phố T, phạt tiền 1.750.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;

- Nhân thân: + Bản án số 10/2009/HSST, ngày 26/02/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 373, ngày 22/5/2014 của Công an thành phố T, xử phạt 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC, ngày 12/01/2017 của Công an thành phố T, phạt tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/QĐ-TA ngày 11/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

LÊ TÂN H trú tại tổ dân phố 13 phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) là người có sử dụng ma túy từ trước. Khoảng 11 giờ, ngày 16/12/2022, H đang ở nhà thì nhìn thấy anh Đỗ Quyết T trú tại tổ dân phố 16, phường A điều khiển xe mô tô biển số 22B1-967.50 (xe T mượn của chị Vũ Hương Q trú quán cùng tổ dân phố) đi qua. H gọi T dừng lại và hỏi mượn xe mô tô đi có việc, T đồng ý. H điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cầu Chả thuộc phường T, thành phố T mục đích tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Đến nơi, H gặp một người đàn ông tên H (không xác định được họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể), H hỏi và mua được của H 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng giấy màu trắng vàng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong H cầm gói Heroine ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ vắng người để sử dụng. Khi đi đến khu vực Bệnh viện Yên Sơn thuộc tổ dân phố 13, phường A, thành phố T bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T yêu cầu kiểm tra, H tự nguyện giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong gói ma túy và tạm giữ xe mô tô theo quy định. Đồng thời tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với H, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể (H khai ngày 15/12/2022 Hợi sử dụng ma túy, nguồn gốc ma túy mua của một người đàn ông không quen biết ở bến xe khách Tuyên Quang).

Kết luận giám định số 23/KL-GĐKTHS ngày 19/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong thu giữ của LÊ TÂN H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,045 gam (Không phẩy không bốn năm gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ LÊ TÂN H, giám định ngày 16/12/2022”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của LÊ TÂN H, thành phần tham gia giám định và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chất bột vón cục màu trắng (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định); tạm giữ 01 xe mô tô biển số 22B1-967.50, nhãn hiệu HONDA (xe đã qua sử dụng). Ngày 30/12/2022, Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô cho chủ sở hữu là chị Vũ Hương Q.

Tại Cơ quan điều tra, LÊ TÂN H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của H còn được chứng minh bằng biên bản xác minh; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 32/CT-VKSTP, ngày 14 tháng 3 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố LÊ TÂN H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo H tiếp tục khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bản thân sử dụng chứ không bán cho ai, nhưng khi đang cất giấu 0,045 gam (Không phẩy không bốn năm gam) Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ. Bị cáo có trực tiếp chứng kiến niêm phong và mở niêm phong phong bì ma túy đã thu giữ của bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì về kết quả giám định phong bì đựng ma túy đã thu giữ của bị cáo và không yêu cầu giám định lại. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố bị cáo là đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo LÊ TÂN H và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo LÊ TÂN H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử phạt: Bị cáo LÊ TÂN H từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 12 năm 2022.

Bị cáo H là người sử dụng ma túy; việc tàng trữ ma túy là để sử dụng không nhằm mục địch vụ lợi; bản thân bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy loại Heroine đã thu giữ của Bị cáo H.

Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất để sớm về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định, nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, tại tổ dân phố 13 phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, LÊ TÂN H trú tại tổ dân phố 13, phường A, thành phố T (có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,045g (Không phẩy không bốn năm gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác của Công an thành phố T, phát hiện lập biên bản bắt giữ. Hành vi Bị cáo H tàng trữ 0,045g ma túy, loại Heroine là chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm, nhưng Bị cáo H đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tính đến thời điểm phạm tội lần này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, truy tố LÊ TÂN H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo H nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; việc sử dụng ma tuý trái phép có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân và kinh tế gia đình, gây mất trật tự ở địa phương, góp phần làm gia tăng tệ nạn sử dụng trái phép chất ma tuý ở địa phương, nhưng bị cáo vẫn cố ý sử dụng ma tuý trái phép dẫn đến tàng trữ trái phép chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý, nên cần xử phạt bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phục vụ công tác phòng chống tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy Bị cáo H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, Bị cáo H một mình thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình đã gây ra.

[6] Về mức án: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nên chấp nhận xử phạt Bị cáo H mức án như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, đề nghị tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[7] Bị cáo H là người sử dụng ma túy; việc tàng trữ ma túy là để sử dụng không nhằm mục địch vụ lợi; bản thân bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp: - 01 (Một) phong bì đựng ma túy, loại Heroine đã niêm phong. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ trái phép, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của LÊ TÂN H, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 1041 ngày 12/01/2023, phạt tiền 1.750.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

[10] Đối với người đàn ông tên H, H khai là người bán ma túy cho Hợi ngày 16/12/2022 tại khu vực cầu Chả nhưng không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ điều tra xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[11] Đối với Đỗ Quyết T, khi H mượn xe mô tô biển số 22B1-967.50, T không biết H sử dụng xe để đi mua ma túy nên không xem xét xử lý là có căn cứ pháp luật.

[12] Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo LÊ TÂN H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Bị cáo LÊ TÂN H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 12 năm 2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ LÊ TÂN H, giám định ngày 16/12/2022”, mặt sau trên các mép dán của phong bì niêm phong có chữ ký của LÊ TÂN H, cùng thành phần tham gia và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Bên trong bì niêm phong có chứa 0,025g (Không phẩy không hai năm gam) ma túy, loại Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định).

Tình trạng vật chứng trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 22/3/2023.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo LÊ TÂN H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo LÊ TÂN H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ