vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 20-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt và ông Nguyễn Ngọc Luân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 09/6/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, tên gọi khác: Không, sinh 1996 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Sai và bà Trần Thị Thanh; Vợ: Lò Thị Hặc; có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2023 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quang M, sinh năm 1997, trú tại: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 15 phút, ngày 23 tháng 02 năm 2023 tại bản Trung tâm, xã Tú Nang, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với Công an xã Tú Nang bắt quả tang Nguyễn Văn L - Sinh năm: 1996, trú tại: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân.

Vật chứng thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” vỏ màu vàng bên trong có 01 gói nilon màu xanh chứa 10 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY nghi là Methamphetamine do Nguyễn Văn L tự giác lấy trong túi quần trước bên trái đang mặc trên người giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn xanh đen bạc biển kiểm soát 26N1-074.39; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô do Công an huyện Yên châu cấp ngày 27/3/2023.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La phối hợp với phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L và trích rút mẫu để giám định: 10 viên nén màu hồng hình trụ tròn, trên bề mặt có chữ WY đựng trong túi nilon màu hồng có khối lượng 1,20 gam; trích 05 viên có khối lượng 0,54 gam kí hiệu L1 gửi giám định chất ma túy; còn lại 05 viên có khối lượng là 0,66 gam kí hiệu L nhập kho vật chứng.

Tại kết luận giám định số: 461 ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma tuý, loại chất Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,54 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,20 gam; Loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn L khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 23/02/2023, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô BKS 26N1-074.39 của Trần Quang M, sinh năm 1997, trú tại Bản C, xã T, huyện Y (là anh họ của Nguyễn Văn L) một mình từ nhà của mình tại Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La mang theo số tiền 700.000 đồng và 01 lồng chim đến khu rừng giáp bản Nong Pét, xã Tú Nang, huyện Yên Châu để bẫy chim. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đang ở trong rừng, L thấy có một người thanh niên dân tộc Mông khoảng 28 tuổi đang lấy củi ở gần đó. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L đến gặp người thanh niên này hỏi “có ma túy bán không?”. Người thanh niên nói có Hồng phiến bán với giá 70.000 đồng/1 viên. Qua trao đổi L thỏa thuận mua dược của người này 10 viên hồng phiến giá 700.000 đồng được đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Có được số ma túy L cất trong túi quần phía trước đang mặc trên người rồi điều khiển xe quay trở về nhà. Khi đi đến khu vực bản Trung tâm, xã Tú Nang, huyện Yên Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu kiểm tra hành chính, L tự giác lấy gói ma túy cất trong túi quần trước bên trái đang mặc trên người giao nộp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKSYC ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

01 phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín niêm phong đúng quy định. Mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy niêm phong hồi 09 giờ 15 ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Phòng Kỹ thuật hình sự PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có : Mẫu L = 0,66 gam Methamphetamine; 01 phong bì niêm phong giấy niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn L trình bày: Bị cáo nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại chiếc xe máy trên cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 23 tháng 02 năm 2023, Nguyễn Văn L đã mua trái phép chất ma túy mục đích sử dụng cho bản thân với giá 700.000 đồng. Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang trên đường trở về nhà đến khu vực bản Trung Tâm, xã Tú Nang, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với Công an xã Tú Nang kiểm tra, L tự giác lấy 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng bên trong có 10 viên Methamphetamine cất trong túi quần trước bên trái mặc trên người giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Nguyễn Văn L 1,20 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông ngoại là ông Trần Quang Thạch và bà ngoại là bà Nguyễn Thị Chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nghiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Nguyễn Văn L nghiện ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân Nguyễn Văn L không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín niêm phong đúng quy định. Mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy niêm phong hồi 09 giờ 15 ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Phòng Kỹ thuật hình sự PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có : Mẫu L = 0,66 gam Methamphetamine; 01 phong bì niêm phong giấy niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Xét thấy đây là những vật cấm mua bán, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn xanh đen bạc biển kiểm soát 26N1-074.39 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Quá trình điều tra xác định chủ xe là Trần Quang M, sinh năm 1997, trú tại Bản C, xã T, huyện Y (là anh họ của Nguyễn Văn L), việc L sử dụng xe máy vào việc đi mua ma túy anh Trần Quang M hoàn toàn không được biết, không liên quan. Ngày 10/3/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại cho Trần Quang M chiếc xe máy và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe máy nêu trên. Xét là phù hợp, cần chấp nhận.

Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn L, L khai nhận không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán ma túy diễn ra ở ven rừng giáp ranh bản Nong Pét, xã Tú Nang, chỉ có L và người đàn ông đó biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không có căn cứ xác minh làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023 ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín niêm phong đúng quy định. Mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy niêm phong hồi 09 giờ 15 ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Phòng Kỹ thuật hình sự PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có : Mẫu L = 0,66 gam Methamphetamine; 01 phong bì niêm phong giấy niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).

Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn xanh đen bạc biển kiểm soát 26N1-074.39 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh Trần Quang M.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ