vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần Trung N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 12/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Ngọc Anh

- Ông Huỳnh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần: Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trung N, sinh năm 1996, tại: Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp K, xã S, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp 4, xã V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (còn sống).

Tiền án: Ngày 18/5/2020 bị Tòa án quân sự khu vực Quân khu 9 xử phạt 02 năm tù về tội “Hành hung đồng đội” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 398 Bộ luật hình sự. Ngày 21/4/2021 chấp hành xong hình phạt (do được tha tù trước thời hạn).

Nhân thân: Ngày 13/8/2019 bị Đoàn kinh tế Quốc phòng 915 – Quân khu 9 xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đánh nhau với đồng đội.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 13/10/2022 cho đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 03/10/2022, Trần Trung N đang ở nhà trọ xưởng đá tại ấp 4, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai của ông Nguyễn Văn S thì Bảy (không rõ lai lịch) là bạn cùng làm chung xưởng đá nhờ đi mua ma túy đá về sử dụng thì N đồng ý. Bảy đưa cho N 250.000 đồng và xe mô tô biển số 60K1-0815 của Bảy đi mua ma túy. Trên đường đi N sử dụng 50.000 đồng mua nước uống rồi đi đến nhà đối tượng Chí mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, N đang đi về đến khu vực đường tỉnh lộ 767 thuộc tổ 15, ấp 3, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã Vĩnh Tân tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện dưới chân của Trần Trung N có 01 bịch nilon hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. N khai nhận các hạt tinh thể màu trắng trong bịch nilon dưới mặt đất sát chân của Trần Trung N là ma túy N mới mua để mang về nhà chuẩn bị mang về nhà sử dụng thì bị bắt quả tang.

* Tang vật thu giữ:

+ Thu giữ tại vị trí Trần Trung N đang đứng: 01 bịch nilon hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định);

+ Thu tại hiện trường 01 xe mô tô biển số 60K1-0815 màu tím trắng, nhãn hiệu Dream, số máy LC 150FMG1A01603393, số khung DU100200100793.

Quá trình điều tra xác định: xe mô tô biển số 60K1-0815 màu tím trắng, số máy LC 150FMG1A01603393, số khung DU100200100793 do ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1958, địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu. Ông T không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với ông Huỳnh Văn T. Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 2103/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1830 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, bị cáo không có ý kiến gì về Bản kết luận giám định của Công an tỉnh Đồng Nai.

Trần Trung N khai nhận mua ma túy của Duy. Kết quả xác minh xác định Duy có họ tên Đỗ Anh D, sinh năm 1981, địa chỉ: Tổ 15, Ấp 3, xã V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Quá trình điều tra Duy không thừa nhận bán ma túy cho N và không biết N. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà D nhưng không phát hiện ma túy vì vậy không có căn cứ khởi tố Đỗ Anh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 46/CT-VKSVC ngày 16/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các Điều 38, 47, 48, điểm s khoản 1, khoản 2 (đã từng tham gia N vụ quân sự) Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Trần Trung N mức án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022.

+ Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định trong niêm phong số 1451/KLGĐ-KTHS.

+ Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, truy tố xác định ông Nguyễn Văn S là chủ xưởng đá, không liên quan tới vụ án nên Hội đồng xét xử không xác định ông Nguyễn Văn S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 03/10/2022, tại ấp 3, xã V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Trần Trung N sau khi mua 0,1830 gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Trần Trung N đã cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng các loại chất cấm của Nhà nước. Khi xem xét hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có nhân thân xấu thể hiện ở việc đã bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đánh nhau với đồng đội và đã từng bị kết án về tội “Hành hung đồng đội” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Ngày 18/5/2020 bị cáo bị Tòa án quân sự khu vực Quân khu 9 xử phạt 02 năm tù về tội “Hành hung đồng đội” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 398 Bộ luật hình sự. Ngày 21/4/2021 chấp hành xong hình phạt (do được tha tù trước thời hạn). Ngày 03/10/2022, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ Điều 70 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển số 60K1-0815: Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định số 2103/KL-KTHS tên đối tượng Trần Trung N niêm phong ngày 07/10/2022 có chữ ký giám định viên Phạm Thị Hương Mai và đại diện CQCSĐT Đỗ Văn Sáng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo và đối tượng Bảy theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 38, 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần Trung N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022.

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định niêm phong số 2103/KL-KTHS tên đối tượng Trần Trung N niêm phong ngày 07/10/2022 có chữ ký giám định viên Phạm Thị Hương Mai và đại diện CQCSĐT Đỗ Văn Sáng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Trung N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ