vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy T1 phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

X phạt: Bị cáo Phạm Duy T1 07 (bảy) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 27/6/2023. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy Thịnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy T1 phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƢ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 28 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Hòa

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Bích Lan;

Bà Lê Thị Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hoàng Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dung Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại H i trư ng t Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi t

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST - HS ngày 6 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra t số 74/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với:

Bị cáo: PHẠM DUY THỊNH, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1995 tại Quảng Ngãi.

Nơi đăng ký thư ng trú, chỗ ở hiện nay: Thôn H, ã B, huyện B, tỉnh Quảng

Ngãi.

Nghề nghiệp: lao đ ng tự do; trình đ học vấn: 9/12; dân t c: Kinh; giới

tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: 051095010987

cấp ngày 09 tháng 02 năm 2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH;

con ông Phạm Duy C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm: 1969. Bị

cáo là con út trong gia đình; chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 11/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn tuyên phạt 09

tháng tù về t i tr m cắp tài sản. Đến ngày 11/12/2015 đã chấp hành ong

toàn b bản án. Ngày 22/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn tuyên

phạt 24 tháng tù về t i tr m cắp tài sản. Đến ngày 15/3/2018 đã chấp hành

ong toàn b bản án. Ngày 18/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn

tuyên phạt 40 tháng tù về t i tr m cắp tài sản. Đến ngày 20/01/2023 đã chấp

hành ong bản án.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: 04/10/2010 bị UBND huyện B đưa vào trư ng giáo dưỡng theo

Quyết định số 5076; đã chấp hành ong.

Bị cáo Phạm Duy T1 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 27/6/2023 đến ngày t .

Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 gi ngày 27/6/2023, bị cáo Phạm Duy T1 đi tìm mua ma tuý để s dụng. Bị cáo đi b đến ngã tư trư ng Đại học T2 - Quốc L A thì thấy có m t ngư i thanh niên chạy e ôm (không biết rõ ngư i này là ai), bị cáo hỏi in thuốc lá để hút và hỏi ngư i thanh niên này có biết chỗ nào bán ma tuý không thì mua giúp bị cáo sẽ trả tiền công là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Sau khi đặt vấn đề ong thì ngư i thanh niên này gọi điện thoại cho ai đó rồi đồng ý mua ma tuý cho bị cáo T1. Bị cáo đưa cho ngư i thanh niên này 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và dặn ngư i này mua: “n a h p năm” (tiếng lóng của ma tuý khay), còn lại bao nhiêu thì mua ma tuý kẹo và 300.000 đồng tiền công. Khoảng 15 phút thì ngư i thanh niên này quay lại, đưa ma tuý cho T1 trong m t túi nilong, trong đó có 02 (hai) viên n n màu anh và 01 (m t) túi nilong (dạng túi Zip) bên trong túi nilong (Zip) này có nhiều hạt tinh thể màu trắng. Bị cáo T1 cất giữ số ma tuý này vào túi quần bên trái rồi đi b đến khu đư ng vắng bên hông trư ng THCS L, huyện T để s dụng ma tuý thì bị công an kiểm tra và phát hiện trong túi quần của bị cáo T1 m t túi nilong, trong đó có 02 (hai) viên n n màu anh và 01 (m t) túi nilong (dạng túi Zip) nêu trên.

Tại kết luận giám định số 655/KL-KTHS, ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 02 viên nén màu xanh bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại MDMA; khối lượng mẫu: 0,66 gam. Chất rắn màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Kentamine; khối lượng mẫu: 1,14 gam. MDMA và K là chất ma túy nằm trong danh mục được qui định Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Với n i dung trên tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTN-HS của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Dương Văn A về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 B luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, Tỉnh Quảng Ngãi thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị H i đồng t : Tuyên bố bị cáo Phạm Duy T1 phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 B luật hình sự, phạt bị cáo Phạm Duy T1 mức án từ 6 năm 6 tháng tù đến 7 năm 6 tháng tù.

Về vật chứng: 01 (m t) phong bì được niêm phong số 655/KTHS (GĐ-2023) bên trong có 0,53 gam muẫn ma tuý loại MDMA; 1,05 gam ma tuý loại Kentamine đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình phù hợp với l i khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những ngư i tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại B luật tố tụng hình sự là hợp pháp.

Tại biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang ngày 27/6/2023, thể hiện: Vào khoảng 20 gi ngày 27/6/202, tại cổng trư ng THCS L, Công an huyện T và Công an Thị trấn L tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần của bị cáo Phạm Duy T1 có m t túi nilong, trong đó có 02 (hai) viên n n màu anh và 01 (m t) túi nilong (dạng túi Zip) bên trong túi nilong (Zip) này có nhiều hạt tinh thể màu trắng, đã tiến hành tạm giữ và niêm phong. Tại kết luận giám định số 655/KL-KTHS, ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 02 viên nén màu xanh bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại MDMA; khối lượng mẫu: 0,66 gam. Chất rắn màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Kentamine; khối lượng mẫu: 1,14 gam. MDMA và K là chất ma túy nằm trong danh mục được qui định Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy so với mức tối thiểu của từng chất là: MDMA (0,66gam/5gam 100%) + Kentamine (1,14gam/20gam 100%) = 18,9% < 100% nên thu c trư ng hợp quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 B luật hình sự”. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai mua ma tuý để s dụng; bị cáo thừa nhận toàn b hành vi phạm t i của mình.

Tại bản án số 49/2016/HSST ngày 22/9/2016 bị cáo T1 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự năm 1999. Bản án số 05/2020/HS-ST ngày 18/02/2020 tòa án nhân dân huyện Bình Sơn đã áp dụng định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 B luật hình sự 2015. Trong lần phạm t i này bị cáo Phạm Duy T1 chưa được óa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm t i do lỗi cố ý là thu c trư ng hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 53 BLHS.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành t i: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 B luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo tại Cáo trạng số 26/CT-VKSTN-HS ngày 06/9/2023 là có căn cứ đúng ngư i, đúng t i và đúng pháp luật.

Hành vi phạm t i của bị cáo Phạm Duy T1 là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã âm phạm tới chính sách quản lý đ c quyền của Nhà nước về các chất ma túy, âm phạm trật tự, an toàn ã h i, hủy hoại sức khỏe con ngư i. Hành vi trên của bị cáo đã gây ảnh hưởng ấu đến tình hình trật tự trị an của ã h i. Cần phải phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất và hành vi phạm t i của bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi ã h i m t th i gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng th i răn đe các đối tượng khác có hành vi tương tự.

Về tình tiết tăng nặng đã được áp dụng để định khung hình phạt. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải.

Hình phạt bổ sung: Không.

X t về vật chứng: 01 (m t) phong bì được niêm phong số 655/KTHS (GĐ-2023) bên trong có 0,53 gam muẫn ma tuý loại MDMA; 1,05 gam ma tuý loại Kentamine, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q (sau giám định). Đây là các vật cấm tàng trữ, căn cứ Điều 47 B luật hình sự, Điều 106 B luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với ngư i thanh niên bán ma tuý cho Phạm Duy T1 vào tối ngày 27/6/2023, bị cáo T1 và Cơ quan Cảnh sát điều tra không ác định cụ thể nhân thân, lai lịch của ngư i này nên chưa lý được là có cơ sở.

H i đồng t

t l i đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên H i đồng t sẽ em t khi lượng hình.

Bu c bị cáo Phạm Duy T1 phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 333 B luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 B luật hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy T1 phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

X phạt: Bị cáo Phạm Duy T1 07 (bảy) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 27/6/2023.

2. Áp dụng Điều 47 B luật hình sự, Điều 106 B luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (m t) phong bì được niêm phong số 655/KTHS (GĐ-2023) bên trong có 0,53 gam muẫn ma tuý loại MDMA; 1,05 gam ma tuý loại Kentamine, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục THADS và Cơ quan CSĐT Công an huyện T ngày 05/9/2023.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí tòa án bu c bị cáo Phạm Duy T1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2023).

Cỡ chữ