vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị Teo Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023 là 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bẩy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Không áp dụng hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TEO VĂN T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN TAM ĐƢỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 20/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƢỜNG, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Dương Thanh Bắc.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thủy

Ông Hoàng Xuân Nhật

- Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 08/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Teo Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 07/7/1986;

Tại: huyện TĐ, tỉnh Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Teo Văn U (đã chết); con bà: Sý Thị TH, sinh năm 1954; có vợ là: Lường Thị Đ (đã ly hôn); Gia đình bị cáo có 06 anh, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo Teo Văn T bị tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu cho đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Teo Văn T, sinh ngày 07/7/1986, trú tại bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu, Thành khai bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 30/3/2023, Thành đi từ nhà đến bản Nà Vàn, xã Nà Tăm, huyện TĐ, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại bản Nà Vàn, Thành gặp một người đàn ông tên Liên không rõ họ, địa chỉ, qua nói chuyện Thành mua của Liên 02 gói Heroine (đều được gói bằng mảnh nilon màu đen) giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, Thành cất giấu 01 gói Heroine trong túi quần bên phải, gói còn lại Thành cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi về nhà. Hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, khi Teo Văn T đi đến bản NP, xã BL, huyện TĐ thì bị Công an xã BL, huyện TĐ phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vật chứng thu giữ của Thành là 02 gói Heroine. Công an xã BL đã giao người bị bắt và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 37 ngày 30/3/2023 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Teo Văn T có tổng khối lượng là: 0,35 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 393 ngày 03/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Teo Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bị can là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản NP, xã BL, huyện TĐ là bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban Dân tộc; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,35 gam Heroine thu giữ của Teo Văn T, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật).

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 02 mảnh nilon màu đen thu giữ của Teo Văn T, hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện TĐ.

Về phần dân sự: không

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ, ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ truy tố bị cáo Teo Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện TĐ đánh giá như sau: Quá trình điều tra, truy tố, đối với bị cáo Teo Văn T giữ nguyên quyết định truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Teo Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Teo Văn T vào trại chấp hành án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen gói vật chứng ban đầu đươc cho vào trong một phong bì công văn do Công an huyện TĐ phát hành niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước phong bì. Trên các mép dán của giấy niêm phong mặt trước phong bì có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Vàng A Thung, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Lò Văn Ngân, Teo Văn T, Phạm Tiến Dũng. Mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen vụ Teo Văn T – SN: 1986, trú tại bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 30/3/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn, đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện TĐ.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Teo Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Teo Văn T nhất trí với bản luận tội và không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Teo Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Teo Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, tại bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu, Teo Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã BL, huyện TĐ phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Teo Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện TĐ đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; ông nội bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về nguồn gốc ma túy: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Teo Văn T khai mua của một người không rõ lai lịch, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vật chứng:

Đối với: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen gói vật chứng ban đầu đươc cho vào trong một phong bì công văn do Công an huyện TĐ phát hành niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước phong bì. Trên các mép dán của giấy niêm phong mặt trước phong bì có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Vàng A Thung, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Lò Văn Ngân, Teo Văn T, Phạm Tiến Dũng. Mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen vụ Teo Văn T – SN: 1986, trú tại bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 30/3/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn, đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện TĐ là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, không có tài sản gì đáng giá nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Án phí:

Áp dụng điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị Teo Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023 là 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bẩy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen gói vật chứng ban đầu đươc cho vào trong một phong bì công văn do Công an huyện TĐ phát hành niêm phong lại bằng cách dán kín các mép phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước phong bì. Trên các mép dán của giấy niêm phong mặt trước phong bì có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Vàng A Thung, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Lò Văn Ngân, Teo Văn T, Phạm Tiến Dũng. Mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon màu đen vụ Teo Văn T – SN: 1986, trú tại bản NP, xã BL, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 30/3/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn, đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện TĐ.

Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện TĐ, tỉnh Lai Châu.

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Teo Văn T.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ