- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chảo Pháy S (tên gọi khác Chảo Phẩy S) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chảo Pháy S (tên gọi khác Chảo Phẩy S) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày 20-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Công Nghiệp và ông Nguyễn Văn Tiếp
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Chiến, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Chảo Pháy S, sinh năm 1946, tại huyện S, tỉnh Lai Châu.
Tên gọi khác: Chảo Phẩy S.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản S, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Chảo Y S, đã chết; Con bà: Tẩn Lún C, đã chết.
Bị cáo có chồng Phàn Phù C, (đã chết) và 06 con, con lớn nhất đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 1978.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/01/2014, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo Chảo Phẩy S 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 14/3/2016 ra trại, đã được xoá án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/12/2022 đến ngày xét xử. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Chảo Pháy S: Bà Bùi Thuý A, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N điều tra hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Chảo Chiềm Sênh, sinh năm 1945, trú tại bản N 3, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra, Chảo Chiềm Sênh khai nhận số ma túy bị thu giữ là do Chảo Chiềm Sênh mua của Chảo Pháy S. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N tiến hành khám xét chỗ ở của Chảo Pháy S thu giữ 01 gói ni lông màu hồng, bên trong chứa 04 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,42 gam. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ Chảo Pháy S khai nhận mua của một người phụ nữ bị cáo không rõ lai lịch ở khu vực cầu S vào khoảng tháng 10 năm 2022 với giá 150.000 đồng về sử dụng và không liên quan đến hành vi của Chảo Chiềm Sênh.
Cáo trạng số 11/CT-VKSNP ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Chảo Pháy S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Chảo Pháy S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, o khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp của đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N và luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản khám xét hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/12/2022 bút lục 04, 05 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tạm giữ của bị cáo Chảo Pháy S 01 gói ni lông màu hồng, bên trong có 04 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 03/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bút lục số 50 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Chảo Pháy S là 0,42 gam nghi ma túy tổng hợp. Toàn bộ vật chứng được gửi đi giám định.
Kết luận giám định số 1547/KL-KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 52 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Chảo Pháy S là 0,42 gam. Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Chảo Pháy S gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Chảo Pháy S có tội. Bị cáo khai nhận đã mua ma túy của một người phụ nữ không rõ lai lịch với giá 150.000 đồng với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ chứng minh có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Chảo Pháy S có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ của Chảo Pháy S là 0,42 gam Methamphetamine. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Chảo Pháy S là người dân tộc Dao sinh sống ở xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người nghiện ma túy nhiều năm và chưa sử dụng các biện pháp cai nghiện. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 10/01/2014, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo Chảo Phẩy S 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 14/3/2016 ra trại. Do bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của bản án nên đối chiếu theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì bị cáo đã đương nhiên được xoá án tích. Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân xấu của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội khi đang ở tuổi 77 Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm o khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp của đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Chảo Pháy S.
Về vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N gửi toàn bộ đi giám định và không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng đã được xử lý hết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có đủ cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối tượng Chảo Chiềm S khai nhận mua ma túy của bị cáo. Quá trình điều tra và đối chất, bị cáo Chảo Pháy S không thừa nhận đã bán ma túy cho bị cáo. Do không đủ cơ sở buộc tội bị cáo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Chảo Pháy S (tên gọi khác Chảo Phẩy S) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Chảo Pháy S (Chảo Phẩy S) 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án
3. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Chảo Pháy S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 20/4/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Cơ quan CSĐT Công an huyện N; - Nhà tạm giữ Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |