vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố LVQ và LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVQ 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2022. Xử phạt bị cáo LVN 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LVQ, LVN phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố LVQ và LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 14-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hương.

Ông Lù Văn Mẳn.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

LVQ, sinh ngày 15/7/1994, tại MB, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản B, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVO, sinh năm 1979 và con bà LTP, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

LVN, sinh ngày 15/9/1986, tại MB, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản B, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVK, sinh năm 1964 và con bà LTH, sinh năm 1962; có vợ là LTC, sinh năm 1994, có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo LVQ và LVN bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 16/10/2022, tại: Bản Ta Mo, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang LVQ, sinh ngày 15/7/1994 và LVN, sinh ngày 15/9/1986, đều ở bản B, MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

LVQ tự giác lấy dưới đất giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVQ và LVN khai là Heroine để sử dụng;

LVN tự giác lấy dưới đất giao nộp 01 gói được gói bằng vỏ đựng kim tiêm bên trong có chứa cục bột màu hồng, LVQ và LVN khai là hồng phiến để sử dụng;

Ngày 16/10/2022 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do LVQ và LVN tự giác giao nộp:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,07 gam, lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu QN1;

01 gói được gói bằng vỏ đựng kim tiêm bên trong có chứa cục bột màu hồng có khối lượng 0,08 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu QN2.

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1642/KL-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu QN1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,07 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,07 gam Heroine; Mẫu ký hiệu QN2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,08 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,08 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,08 gam Methamphetamine và 0,07 gam Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVQ và LVN không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra LVQ và LVN khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/10/2022 LVQ đi ăn sáng ở bản Giàn, xã MB, huyện Mường La. LVQ có gặp và rủ LVN xem có tiền chung đi mua ma túy về sử dụng, LVN không có tiền, nên LVQ mang điện thoại của mình đi bán được 100.000, đồng, có tiền LVQ đi đến khu rừng ma bản Giàn, xã MB gặp và mua của Lèo Văn Cường (Cường Quân) ở bản Nang Phai, xã MB, huyện Mường La 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và 01 cục bột màu hồng, với giá 100.000, đồng.

2

Có ma túy LVQ mang đến chỗ LVN, hai người đến khu vực đường bản Ta Mo, xã MB tìm chỗ để sử dụng. LVQ đưa cho LVN chỗ ma túy để Ngọc lấy vỏ đựng bơm kim tiêm cho cục ma túy màu hồng vào nghiền nhỏ để sử dụng, khi đang làm thì đến hồi 08 giờ 30 phút ngày 16/10/2022 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy LVQ khai mua của một người tên Lèo Văn Cường (Cường Quân) ở bản Nang Phai, xã MB, huyện Mường La với số tiền 100.000, đồng. Qua điều tra về người bán ma túy, không có mặt tại địa phương, đang tiếp tục xác minh giải quyết sau.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVQ và LVN đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-ML ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo LVQ và LVN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố LVQ và LVN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt LVQ từ 24 đến 30 tháng tù;

Xử phạt LVN từ 16 đến 22 tháng tù.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bơm kim tiêm (đều được niêm phong).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo LVQ và LVN phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo LVQ và LVN thừa nhận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 16/10/2022, tại đường bản Ta Mo, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,08 gam và 01 gói Heroine có khối lượng 0,07 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Do LVQ và LVN cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau: Số Methamphetamine có khối lượng 0,08 gam + số Heroine có khối lượng 0,07 gam = 0,15 gam ma túy, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVQ và LVN đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo LVQ với vai trò chủ mưu, đã chủ động rủ rê bị cáo LVN tham gia mua, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.

4

. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bơm kim tiêm (đều được niêm phong).

Về nguồn gốc ma túy LVQ khai mua của một người tên Lèo Văn Cường (Cường Quân) ở bản Nang Phai, xã MB, huyện Mường La với số tiền 100.000, đồng. Qua điều tra về người bán ma túy, không có mặt tại địa phương, đang tiếp tục xác minh giải quyết sau nếu có căn cứ, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố LVQ và LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVQ 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2022.

Xử phạt bị cáo LVN 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2022.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bơm kim tiêm (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 16/10/2022). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2023 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo LVQ và LVN phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/02/2023.

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ