- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS - ST Ngày 31/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Tác
2. Bà Triệu Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST- HS ngày 10/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST- HS ngày 17/8/2023 đối với bị cáo:
HOÀNG VĂN L (tên gọi khác không); sinh ngày 12 tháng 01 năm 1990 tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Nông Thị B; vợ: Tràng Thị B (đã ly hôn năm 2019); con: Có 01 (một) con; tiền sự: Không; tiền án: 01 (một) – ngày 12/01/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2017/HSST. Ngày 11/7/2021, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đến nay chưa được xóa án tích đối với bản án trên; nhân thân: Xấu; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15/6/2023 đến ngày 21/6/2023 thì được hủy bỏ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 10 phút ngày 15/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang làm nhiệm vụ tại tổ A, thị trấn B huyện S, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện và bắt quả tang bị cáo Hoàng Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Bị cáo L tự nguyện xuất trình từ túi quần đằng trước bên phải L đang mặc 01 (một) gói ni lon loại bỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ màu xanh, mở ra bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa cục và bột màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành trích mẫu chất màu trắng dạng cục và bột màu trắng trên vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (thuốc thử Herione) do Bộ Công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu L1.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn lập hồi 16 giờ 05 phút, ngày 15 tháng 6 năm 2023 xác định: cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng có trong 01 (một) gói giấy trong phong bì ký hiệu L1 có khối lượng là 0,66g (không phẩy sáu sáu gam) niêm phong trong phong bì mới L2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn 01 (một) gói ni lon loại vỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ in màu xanh và 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ cùng phong bì niêm phong ban đầu L1 được cho vào phong bì mới ký hiệu L3.
Tại Kết luận giám định số: 202/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu L2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu L2 có khối lượng là: 0,66g (không phẩy sáu sáu gam).
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hoàng Văn L khai nhận: 01 (một) gói nhỏ có chứa cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do bị cáo mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15/6/2023, bị cáo L bắt xe khách từ nhà ra thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. khi ra đến khu vực bến xe cũ thuộc tổ B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị cáo xuống xe. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 30 tuổi giống người nghiện (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) nên bị cáo đã hỏi mua ma túy và được người đàn ông trên đồng ý bán ma túy cho. Bị cáo L đưa cho người đàn ông trên số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đưa cho một gói ma túy có đặc điểm được gói bởi 01 (một) gói ni lon loại vỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ màu xanh, bên trong có một gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa cục và bột màu trắng là loại ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy L cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần đằng trước bên phải L đang mặc rồi đi bộ lên khu vực tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để chờ xe khách về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện C và Công an thị trấn B phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy vừa mua được.
Về vật chứng cơ quan điều tra tạm giữ trong vụ án gồm: Số ma túy thu giữ được của bị cáo Hoàng Văn L sau khi giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu L2 còn lại 0.62g (không phẩy sáu hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào trong phong bì mới ký hiệu T111 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) phong bì ký hiệu L3 bên trong có chứa 01 (một) gói ni lon .
Tại bản cáo trạng số: 38/CT - VKSCĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 18 tháng đến 24 tháng tù được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (kể từ ngày 15/06/2023 đến ngày 21/6/2023).
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (heroine) thu giữ của bị cáo Hoàng Văn L sau khi trích giám định còn lại 0,62g (không phẩy sáu hai gam), phong bì L2 và bao gói cũ được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T111 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu L3 bên trong có chứa 01 (một) gói ni lon loại vỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ in màu xanh và 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ cùng phong bì nêm phong ban đầu L1.
Về án phí đề nghị: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15/6/2023, bị cáo Hoàng Văn L một mình bắt xe khách từ nhà ở thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, khi ra đến khu vực bến xe cũ tại tổ B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị cáo xuống xe. Tại đây bị cáo L đã có hành vi mua trái phép 01 (một) gói ma túy Heroine với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) với số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) để sử dụng cá nhân. Sau khi mua được ma túy bị cáo L cất gói ma túy vào túi quần đằng trước bên phải bị cáo đang mặc. Đến 14 giờ 10 phút cùng ngày khi bị cáo đi bộ lên đến tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an huyện C, Công an thị trấn B bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy với tổng khối lượng là 0,66g (không phẩy sáu sáu gam).
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định là chất ma tuý (Heroine). Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo nghiện chất ma túy do đó để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,66g (không phẩy sáu sáu gam) ma túy Heroine của bị cáo cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 38/CT – VKSCĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội là Hoàng Văn Th được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba do vậy bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 12/01/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2017/HSST. Ngày 11/7/2021, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, đến nay chưa được xóa án tích đối với bản án trên nên bị cáo phải chịu 01 (một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - chưa được xóa án tích nên bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có điều kiện về kinh tế. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo Hoàng Văn L sau khi trích giám định còn lại 0,62 (không phẩy sáu hai gam), thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành - cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu T111 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn (bên trong có chứa phong bì L2 và bao gói cũ); 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu L3, bên trong có chứa 01 (một) gói ni lon loại vỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ in màu xanh và 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ cùng phong bì niêm phong ban đầu L1 – xác định đều là vật chứng không có giá trị - tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Hoàng Văn L là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại khu vực bến xe cũ thuộc tổ B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra bị cáo Hoàng Văn L không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 24 (hai mươi tư) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 15/6/2023 đến ngày 21/6/2023). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249/BLHS.
[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T111 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn (bên trong phong bì chứa 0,62g ma túy loại Heroine, cùng phong bì L2 và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu L3, bên trong có chứa 01 (một) gói ni lon loại vỏ bao đựng xi lanh bên ngoài có nhiều dòng chữ in màu xanh và 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ cùng phong bì niêm phong ban đầu L1
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở tư pháp; - VKSND H.Chợ Đồn; - Công an Chợ Đồn; - THADS Chợ Đồn; - Người tham gia tt; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HOÀNG NGỌC ANH |