- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thanh H bị truy tố về tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lại Hữu Tâm.
Bà Phan Thị Dòn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lại Thế Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Thanh H, sinh năm 1989 tại Long An; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, khu phố L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm hồ; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn C và bà Phan Thị Tuyết M; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị bắt truy nã ngày 21/9/2022 và tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người tham gia tố tụng khác:
Bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1970 – (vắng mặt)
Nơi cư trú: B1/14 ấp H, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 ngày 29/4/2014, Đặng Thanh H, Lê Hoài B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T và Phạm Ngọc T ngồi uống rượu, bia tại nhà của H thuộc huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T kể cho cả nhóm nghe sòng bài tại xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã chuyển về xã Qui Đức, huyện Bình Chánh nên T1 không được giữ xe tại sòng bài này nữa. B cùng T1 rủ cả nhóm đi phá sòng bài tại xã Qui Đức, huyện Bình Chánh, tất cả đồng ý. Lúc này, T1 về nhà lấy 01 cây gỗ dài khoảng 60cm, T2 về nhà lấy 01 cây mã tấu dài khoảng 50cm và B về lấy 01 cây tuýp bằng Inox dài khoảng 60cm rồi quay lại nhà của H. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 72K2-7150 chở T1 và B còn T3điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T2 đến sòng bài gần cây xăng Hoàng T3thuộc Tổ 8, Ấp 4, xã Qui Đức, Huyện Bình Chánh. Đến nơi, T3 và T2 đứng ngoài chờ, còn B, T1 và H vào trong sòng bài thì gặp Quách Ngọc A (là anh họ của B). Lúc này, A nói với B “Tụi mày vào đây phá sòng bài tao biết hết rồi, vì có ông T ngồi ở quán nước đầu đường báo cho tao biết” rồi dùng tay tát vào mặt B và đuổi B về. Khi quay ra ngoài, B tức giận nên rủ cả nhóm tìm ông Trần Văn T đánh dằn mặt, cả nhóm đồng ý. Cả nhóm đi sang quán cà phê Ngọc Huệ đối diện cây xăng thì gặp T. Tại đây, T2 dùng tay và ly thủy tinh đánh vào mặt và tay T nhưng không gây thương tích rồi cả nhóm quay về nhà H. Khoảng 15 phút sau, B nghe điện thoại của A báo là T kêu người đánh lại nhóm của B nên B rủ cả nhóm tìm đánh T thì T1, T2 và H đồng ý. Riêng T3 không muốn tham gia nên xin về trước. Do sợ nhóm của T đông người, B điện thoại rủ thêm Võ Ngọc N đi phụ giúp, N đồng ý. Khoảng 05 phút sau, N chở V (không rõ lai lịch) đến. Tại đây, B rủ cả nhóm đi đánh T thì tất cả đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở T1 cầm theo 01 cây gỗ và B cầm theo 01 cây tuýp Inox, còn Nghĩa điều khiển xe mô tô chở Vũ và T2 cầm theo 01 cây mã tấu đi tìm T. Khi đến quán cà phê Ngọc Huệ, thấy T đang đứng cùng với Trần Văn H và Nguyễn Bá D tại bãi đất trống thuộc Ấp 4, xã Qui Đức, huyện Bình Chánh, B cầm cây Inox, T1 cầm cây gỗ, T2 cầm mã tấu, H không cầm hung khí cùng nhảy xuống đuổi đánh nhóm T. N và V đứng ngoài giữ 02 xe mô tô. Thấy nhóm của B cầm hung khí xông đến, H và D bỏ chạy thoát. Riêng T chạy không kịp nên bị B đuổi theo dùng tuýp Inox đánh khoảng 05 - 06 cái vào người, T1 và T2 đuổi đuổi theo Hải không kịp và quay lại thấy xe của T nên dùng cây và mã tấu đập phá xe T. Tiếp đó, thấy T té ngã, T2 liền dùng dao chém trúng tay T rổi cả nhóm lên xe đồng bọn tẩu thoát. Trên đường về, B kêu T1 và T2 ném tất cả hung khí gây án. Vụ việc trên được Công an xã Qui Đức lập hồ ban đầu và chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 402/TgT.14 ngày 23/5/2014 của Trung T pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với thương tích của Trần Văn T như sau:
“- Chấn thương đầu, có hình ảnh sưng mô mềm vùng trán, vùng T3dương phải, hình ảnh gãy xương chính mũi trên. Thương tích do vật tày tác động gây ra.
- Vết thương mặt mu ngón II bàn tay trái gây rách da, gãy đốt giữa ngón II.
- Chấn thương bàn tay phải gây rách da đốt gần ngón IV, gãy đốt gần ngón V. Thương tích do vật sắc, vật có cạnh sắc gây ra. Hình ảnh gãy xương lệch trục đốt gần ngón V, cứng ngón V. Thương tích do vật tày tác động mạnh gây ra.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 26%”.
Ngày 02/6/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Hoài B, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thanh T2 và Đặng Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích”; đến ngày 02/9/2014 thì ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Võ Ngọc Nghĩa về tội “Cố ý gây thương tích”. Riêng đối với Đặng Thanh H bỏ trốn nên Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã.
Ngày 17/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đưa ra xét xử và tuyên phạt đối với Lê Hòai B 03 năm 06 tháng tù, Nguyễn Thanh T2 04 năm tù, Nguyễn Văn T1 03 năm 06 tháng tù, Võ Ngọc N 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 50/2015/HSST.
Ngày 21/9/2022, Đặng Thanh H bị Cơ quan Công an bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của Lê Hòa B, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Văn T1, Võ Ngọc Nghĩa, lời khai của bị hại, người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng trong vụ án đã được xử lý theo Bản án số 50/2015/HSST ngày 17/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, gia đình Đặng Thanh H, Lê Hoài B, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thanh T2 đã bồi thường cho bị hại Trần Văn T số tiền 40.000.000 đồng, bị hại T đã làm đơn bãi nại cho các bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 31/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Đặng Thanh H từ 03 đến 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
- Về dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại;
- Về xử lý vật chứng: Ghi nhận đã được giải quyết bằng Bản án số: 50/2015/HSST ngày 17/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thanh H xác định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai, bị cáo rất ăn năn hối hận về hình vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận vào ngày 29/4/2014 bị cáo Đặng Thanh H cùng đồng phạm đã thực hiện hành vi dùng hung khí gây thương tích cho ông Trần Văn T tại bãi đất trống thuộc Ấp 4, xã Qui Đức, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Khi thực hiện hành vi cùng đồng phạm dùng cây gỗ, mã tấu, tuýp Inox… đánh, chém gây thương tích cho bị hại, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì xem thường pháp luật và sức khỏe của người khác nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Tuy bị cáo và các đối tượng khác đánh, chém gây thương tích cho ông Trần Văn T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26%, nhưng bị cáo và các đối tượng khác dùng dùng cây gỗ, mã tấu, tuýp Inox, là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại; bên cạnh đó, giữa bị cáo và bị hại không hề có mâu thuẫn gì với nhau mà bị cáo cùng đồng phạm đánh, chém gây thương tích cho bị hại, thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ, ” được quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, là tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thanh H đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo và đồng phạm phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo chỉ dùng tay tham gia đánh bị hại nên vai trò nhẹ hơn các đồng phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương; ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn và bị truy nã, gây khó khăn cho quá trình điều tra giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong khoảng một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên xét thấy tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại cũng đã làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặt khác, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hình phạt nhẹ hơn khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng trong vụ án đã được xử lý theo Bản án số 50/2015/HSST ngày 17/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nên Hội đồng xét xử không xém xét lại.
Về dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, gia đình bị cáo Đặng Thanh H, Lê H B, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thanh T2 đã bồi thường cho bị hại Trần Văn T số tiền 40.000.000 đồng, bị hại T đã làm đơn bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với Lê Hoài B, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Văn T1, Võ Ngọc N đã bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đưa ra xét xử và tuyên phạt Lê H B 03 năm 06 tháng tù, Nguyễn Thanh T2 04 năm tù, Nguyễn Văn T1 03 năm 06 tháng tù, Võ Ngọc N 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 50/2015/HSST ngày 17/3/2015.
Đối với đối tượng tên Vũ, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đang tiếp tục truy tìm, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như đề nghị giải quyết phần dân sự và xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Căn cứ vào khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:
Xử phạt bị cáo Đặng Thanh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2022.
* Ghi nhận bị hại Trần Văn T không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh (2); - Công an huyện Bình Chánh (1); - Cơ quan Cảnh sát THAHS & HTTP Công an huyện Bình Chánh (1); - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TPHCM (1); - Sở tư pháp TPHCM (1); - Bị cáo (1); - Bị hại (1); - Lưu HS (1); - Lưu VT (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thường Đông |