vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/3/2012 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/9/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà H và ông K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26/4/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Mộng Thu;

2. Bà Võ Thị Hồng Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 50/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 3, khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 3, khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn K có thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện X, tỉnh Thanh Hóa và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 32/2003, quyển số 01/2003, ngày 22/8/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng vào Bình Dương sinh sống nhưng trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, ông K không lo làm ăn mà chỉ ăn nhậu, bỏ bê gia đình, con cái, để mặc bà H một mình xoay sở, dạy dỗ con cái, chăm sóc gia đình. Bà H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông K không thay đổi mà còn chửi mắng, đánh đập bà H. Mỗi lần ông K uống rượu say xỉn về nhà đánh đập bà H, ghen tuông vô cớ, dùng từ ngữ thô tục để chửi mắng bà H một cách thậm tệ. Trước đây vào năm 2020, bà H có nộp đơn ly hôn với ông K tại TAND thành phố T, hòa giải viên đã vận động và ông K cũng mong muốn vợ chồng đoàn tụ nên bà H đã rút đơn khởi kiện, cho ông K một cơ hội để vợ chồng hàn gắn, tuy nhiên sau đó ông K vẫn không thay đổi, vẫn tiếp tục nhậu nhẹt say xỉn, đánh đập, chửi mắng bà H. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/9/2004 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/3/2012. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thùy L; không yêu cầu ông Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Nguyễn Anh T1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian tìm hiểu, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Ông K cho rằng trong cuộc sống gia đình vợ chồng cũng đôi lúc xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt, không có mâu thuẫn nào lớn, gay gắt. Ông K cũng có ăn nhậu với bạn bè quanh xóm tại nhà nhưng chỉ là thỉnh thoảng chứ không phải thường xuyên như bà H trình bày, ông K vẫn quan tâm chăm sóc gia đình, lo cho con cái, đưa rước con đi học, cho con ăn uống, không bỏ bê con. Hiện tại ông K và bà H vẫn cùng nhau buôn bán quần áo ở chợ, ông K vẫn chí thú làm ăn, kiếm tiền cho gia đình và vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông K thống nhất lời trình bày của bà H về con chung. Nếu Tòa án cho ly hôn, ông K đồng ý giao con chung Nguyễn Thùy L cho bà H nuôi, ông K không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Anh T1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông K tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc, bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn K tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà Nguyễn Thị H xác định hiện nay vợ chồng không còn sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Văn K không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn vợ chồng. Về con chung: Bà H yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thùy L, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, con chung tên Nguyễn Anh T1 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; ông K không đồng ý ly hôn nhưng nếu Tòa án cho ly hôn thì đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thùy L cho bà H nuôi dưỡng, ông K không cấp dưỡng nuôi con, đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thành phố T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn K có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện X, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 32/2003, quyển số 01/2003, ngày 22/8/2003, là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H xác định mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng tính tình không hợp, ông K không lo làm ăn mà chỉ ăn nhậu, bỏ bê gia đình, con cái, để mặc bà H một mình xoay sở, dạy dỗ con cái, chăm sóc gia đình. Bà H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông K không thay đổi mà còn chửi mắng, đánh đập bà H. Mỗi lần ông K uống rượu say thì về nhà đánh đập bà H, ghen tuông vô cớ, dùng từ ngữ thô tục để chửi mắng bà H. Ông K cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn và vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm gia đình. Bà H xác định không còn tình cảm với ông K và yêu cầu được ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông K là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông K là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/9/2004 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/3/2012. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thùy L và không yêu cầu ông Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Anh T1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử thấy, hiện tại cháu L đang sống cùng bà H, bà H có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Cháu L cũng có nguyện vọng sống cùng bà H nếu cha mẹ ly hôn. Mặc dù ông K không đồng ý ly hôn tuy nhiên ông K xác định trường hợp Tòa án cho ly hôn thì đồng ý giao cháu L cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông K không cấp dưỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn K.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/3/2012 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Nguyễn Anh T1, sinh ngày 17/9/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn K đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn K không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006716 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ