- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Ngọc T và chị Ngô Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05/7/2023 V/v : Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tiến Mãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Dung; Ông Nguyễn Trọng Tảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
Ngày 05 tháng7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2023/TLST - HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm 4, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn An Lạc, xã Yên Khánh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa vắng mặt chị H, anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc T trình bày: Anh và chị Ngô Thị H chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Thuận huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An (nay là thị xã Thái Hòa) vào ngày 16/6/2003. Vợ chồng chung sống đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống không có hạnh phúc. Anh và chị H đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ năm 2009 đến nay. Anh T xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị H, không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngô Thị H.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 09/02/2005. Cháu S đã trưởng thành và tự lập được nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ và các vấn đề có liên quan trong hôn nhân: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ý Yên đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho chị Ngô Thị H, mặc dù chị Ngô Thị H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng cố tình không đến Tòa án để làm việc. Anh Nguyễn Ngọc T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngô Thị H, không đề nghị giải quyết về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác nên xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Ly hôn”. Chị Ngô Thị H hiện cư trú tại thôn An Lạc xã Yên Khánh huyện Ý Yên tỉnh Nam Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt với những lý do chính đáng. Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập đến Tòa án để cung cấp các tài liệu chứng cứ; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tham gia phiên hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng chị H vắng mặt. Để mở lại phiên tòa này, Tòa án đã tiếp tục thực hiện tống đạt quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa lần hai nhưng chị H vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Ngọc T và chị Ngô Thị H được xác lập vào ngày 16/6/2003, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Thuận huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An (nay là thị xã Thái Hòa) là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Anh T và chị H đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ năm 2009 đến nay. Anh Nguyễn Ngọc T xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Chị Ngô Thị H đã biết được yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Ngọc T, nhưng không đến Tòa án để làm việc và không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ chị không còn tha thiết hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, anh chị đã sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau; mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Ngọc T, xử cho anh được ly hôn với chị Ngô Thị H là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Con chung: Anh T và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 09/02/2005. Cháu S đã trưởng thành và tự lập được, anh Nguyễn Ngọc T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí: Anh Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí theo quy định của Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Ngọc T và chị Ngô Thị H.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc T phải nộp là 300.000đ, đối trừ với số tiền 300.000đ anh Thach đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002415, ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Anh Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Ngô Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự; - UBND xã Yên Khánh; - UBND xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An; - Lưu: HS, VP. | (đã ký) Vũ Tiến Mãn |