- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Hoàng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Trung
Bà Nguyễn Thị Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Hoàng N, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Tổ 1, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Phan Thị Thanh T, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Tổ 1, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Anh N, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Phạm Hoàng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị T có quen biết tìm hiểu 02 năm và tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện H, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/03/2016. Đây là hôn nhân lần đầu của anh N.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại tổ 1, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đây là nhà của cha mẹ anh N.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng anh N chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khoảng tháng 4 năm 2021. Nguyên nhân do vợ chồng đều bận rộn công việc và đặc thù công việc nên anh N cũng thường xuyên đi trực, ít có thời gian ở nhà, hai vợ chồng không có thời gian quan tâm lẫn nhau, dần dần tình cảm ngày càng xa cách. Hơn nữa do đặc thù công việc nên anh N không có nhiều điều kiện để chăm sóc cho gia đình nên anh N mong muốn vợ mình sẽ dành thời gian để chăm sóc cho gia đình và con cái nhưng chị T làm công việc tự do, chị đi làm không xác định thời gian nên cũng bỏ bê công việc gia đình không chăm lo mà phó mặc cho ông bà nội. Ngoài ra, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên trong cuộc sống thường xảy ra cãi vã không thống nhất được quan điểm trong công việc cũng như những vấn đề trong cuộc sống. Hiện nay vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nhiều lần hai vợ chồng đã tự hòa giải hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Hiện nay, hai vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng không còn qua lại tình cảm với nhau, ít khi gặp mặt, một phần do công việc, một phần do đã hết tình cảm và không còn ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng hòa giải đoàn tụ không có, anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị Phan Thị Thanh T để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/05/2017. Khi ly hôn anh N đồng ý giao con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con, anh N sẽ thăm nom và cấp dưỡng cho con theo khả năng của mình.
- Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến trình bày của bị đơn chị Phan Thị Thanh T: Chị T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các buổi làm việc và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa, tuy nhiên nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Hoàng N được ly hôn với chị Phan Thị Thanh T.
+ Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/05/2017 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Buộc anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại: Tổ 1, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/03/2016. Căn cứ các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 hôn nhân của anh N và chị T là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn của anh N đối với chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua trình bày của đương sự tại tòa án cho thấy quá trình chung sống giữa vợ chồng anh N và chị T đã để xảy ra mâu thuẫn vào khoảng tháng 4 năm 2021. Anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có. Mặc dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình cũng như việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Mặc dù sự việc này không được chị T thừa nhận nhưng lời khai của anh N phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã H. Theo biên bản xác minh ngày 09/3/2023 của ông Phạm Thanh H là trưởng ấp H cung cấp thông tin: “… do anh N làm công an viên nên ít có thời gian ở nhà, tình cảm vợ chồng ít có thời gian bồi đắp …”. Mặt khác, quá trình Tòa án giải quyết vụ án cho thấy chị T có thái độ bỏ mặc, không còn sự quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm của chị và anh N đã bị rạn nứt. Anh N và chị T cũng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra. Tòa án cũng không có điều kiện để hòa giải mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị. Nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị anh N và chị T đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ để chung sống, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/05/2017. Hiện con chung do cả anh N và chị T cùng nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu, ý kiến của đương sự trong vấn đề nuôi dưỡng con chung, nhận thấy:
Anh N đồng ý giao cháu Phúc cho chị T được trực tiếp nuôi đưỡng. Hiện nay chị T có công việc và thu nhập ổn định, có chỗ ở ổn định, hơn nữa anh N thường xuyên vắng nhà do đặc thù công việc nên phần lớn việc chăm sóc và nuôi dạy con nhỏ do chị T trực tiếp thực hiện từ khi cháu còn nhỏ đến nay. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần của con trẻ thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phúc cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Hoàng N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Hoàng N được ly hôn với chị Phan Thị Thanh T.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/05/2017 cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh anh Phạm Hoàng N do không có yêu cầu.
Anh N được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009224 ngày 16/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất. Anh N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Hoàng N và chị Phan Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H.Thống Nhất; - Chi cục THADS H.Thống Nhất; - UBND xã H (Số ĐKKH 10 ngày 15/3/2016); - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Ngọc Thành |