vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2023
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Ngô Văn Bi

- Ông Thạch Tân Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Phú Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Khắc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 124/2022/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc tranh chấp: “Xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 28/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thúy A, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Cao Văn Hoàng L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

(Bà A xin vắng mặt, ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Hồ Thị Thúy A trình bày:

Bà Hồ Thị Thúy A và ông Cao Văn Hoàng L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới năm 2006. Đến 13/01/2010 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, mê chơi cờ bạc, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài, không khắc phục được. Nay tình cảm của bà A đối với ông L không còn nên xin ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con tên Cao Hoàng S, sinh ngày 26/01/2008 và Cao Hoàng H, sinh ngày 20/01/2014. Hiện nay 02 con đang sống với bà A. Ly hôn, bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý, Thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Cao Văn Hoàng L hợp lệ. Nhưng ông L không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của bà A.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo các văn bản tố tụng, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, xét thấy:

Về hôn nhân: Bà A và ông L tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn. Trong thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Ông L được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét cử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.

Về con chung: Bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi một 02 con chung tên Cao Hoàng S, sinh ngày 26/01/2008 và Cao Hoàng H, sinh ngày 20/01/2014. Xét thấy, hiện nay Cao Hoàng S và Cao Hoàng H đang sống với bà A. Do đó, để bảo đảm điều kiện sống, sinh hoạt cho Cao Hoàng S và Cao Hoàng H, đề nghị Hội đồng xét xử giao Cao Hoàng S và Cao Hoàng H cho bà A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà A chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét.

Về án phí: Đương sự nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật

Bà Hồ Thị Thúy A xin ly hôn với và ông Cao Văn Hoàng L nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo qui định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Tân Phú Đông theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, bà Hồ Thị Thúy A có đơn xin vắng tại phiên tòa. Ông Cao Văn Hoàng L vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2, không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xét xử vụ án vắng mặt bà A và ông L.

Về nội dung vụ kiện

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thúy A và ông Cao Văn Hoàng L có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông L được pháp luật công nhận. Theo trình bày của bà A, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021. Nguyên nhân là do ông L mê chơi cờ bạc, không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài, ngày càng trầm trọng, vợ chồng không trao đổi hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm của bà A đối với ông L không còn nên bà A xin ly hôn. Xét thấy: Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải 02 lần là tạo điều cho bà A và ông L gặp nhau để trao đổi, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L vẫn không đến, chứng tỏ ông L bỏ mặc quan hệ hôn nhân của ông bà cho bà A quyết định. Bà A cho rằng không còn tình cảm với ông L và kiên quyết xin ly hôn. Do đó, cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con tên Cao Hoàng S và Cao Hoàng H. Hiện nay, Cao Hoàng S và Cao Hoàng H đang sống với bà A. Theo bản tự khai ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Cao Hoàng H và bản tự khai ngày 02/02/2023 của Cao Hoàng S, đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Ông L không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin nuôi con của bà A. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho Cao Hoàng S và Cao Hoàng H và cũng phù hợp với nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, giao Cao Hoàng S và Cao Hoàng H cho bà A tiếp tục nuôi con chung. Bà A không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Bà A nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông L không nộp án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Điều luật áp dụng:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 5; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị Thúy A.

- Bà Hồ Thị Thúy A được ly hôn với ông Cao Văn Hoàng L.

2/ Về con chung:

- Giao Cao Hoàng S, sinh ngày 26/01/2008 và Cao Hoàng H, sinh ngày 20/01/2014 cho bà Hồ Thị Thúy A tiếp tục nuôi dưỡng.

- Bà Hồ Thị Thúy A không yêu cầu ông Cao Văn Hoàng L cấp dưỡng nuôi con.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí:

Bà Hồ Thị Thúy A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai số 0008316, ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú Đông. Như vậy, Bà Hồ Thị Thúy A đã nộp xong án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ, các đương sự có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ