- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn Th xin ly hôn chị Đậu Thị H"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ - ST Ngày: 23 - 3 - 2023. V/v ly hôn giữa anh Th và chị H. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Vui.
2. Ông Đàm Văn Kiều.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2022/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022. Về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 giữa:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th - Sinh năm: 1973;
Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.
* Bị đơn: Chị Đậu Thị H - Sinh năm: 1973;
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 7, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.
Chỗ ở hiện nay: Không có địa chỉ (Đã bị tuyên bố mất tích).
Tại phiên tòa có mặt anh Th, vắng mặt chị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 01/10/2022 cũng như lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th tại phiên tòa trình bày: Anh kết hôn với chị Đậu Thị H vào tháng 01/1994 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến vợ chồng xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Đến tháng 06/2010 chị H bỏ nhà, đi khỏi địa phương, cắt đứt mọi liên lạc với anh cũng như mọi người trong gia đình. Mặc dù anh và gia đình đã nhiều lần đi tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của chị H. Anh đã báo cho chính quyền UBND thị trấn R và nhiều lần anh cùng gia đình đã tìm kiếm nhưng không biết chị H ở đâu, làm gì. Anh đã làm thủ tục thông báo nhắn tìm chị H trên báo, đài ở Trung Ương nhưng vẫn không thấy chị H trở về. Ngày 23/8/2022 Tòa án nhân dân huyện N đã mở phiên họp tuyên bố chị Đậu Thị H mất tích. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H là không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đậu Thị H.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th xác định trong quá trình chung sống vợ chồng anh có một con chung là cháu Nguyễn Thị Th, sinh ngày 06/4/1994. Hiện cháu Th đã trưởng thành tự lập được nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th đề nghị giải quyết theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm Phán thụ lý giảỉ quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Th phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H đều cư trú tại huyện N. Nay anh Nguyễn Văn Th xin ly hôn chị Đậu Thị H và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay chị Đậu Thị H vắng mặt nhưng chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa anh Anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H vào tháng 01/1994 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến vợ chồng xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Đến tháng 06/2010 chị H bỏ nhà, đi khỏi địa phương, cắt đứt mọi liên lạc với anh Th cũng như mọi người trong gia đình. Anh Th và gia đình đã nhiều lần đi tìm kiếm nhưng không có tin tức gì và cũng không ai biết chị H ở đâu, làm gì. Anh đã làm thủ tục thông báo nhắn tìm chị H trên báo, đài ở Trung Ương nhưng vẫn không thấy chị H trở về. Ngày 23/8/2022 Tòa án nhân dân huyện N đã mở phiên họp tuyên bố chị Đậu Thị H mất tích. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng được ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H đã trầm trọng, mặt khác chị H đã bị Toà án tuyện bố mất tích do vậy nay anh Th có đơn xin ly hôn chị Đậu Thị H phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H có một con chung là cháu Nguyễn Thị Th, sinh ngày 06/4/1994. Hiện cháu Th đã trưởng thành tự lập được nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh Nguyễn Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc Hội;
1 - Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Đậu Thị H.
2 - Án phí dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Th đã nộp theo biên lai số 0000811 ngày 09/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, anh Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND tt R; - Lưu văn phòng; HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phƣơng |