vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Bà Thông Thị B và Ông Thông Minh S,"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25.7.2023.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Chánh Ngôn.

2. Ông Thông Minh Tấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ri – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thông Thị B, sinh năm: 1990. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Thông Minh S, sinh năm: 1987. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Thông Thị B trình bày:

Bà Thông Thị B và ông Thông Minh S sống chung với nhau năm 2006, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại UBND xã Y, huyện H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyền số 01/08 ngày 29.7.2008.

Quá trình chung sống, bà Thông Thị B và ông Thông Minh S hạnh phúc một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống chung vợ chồng. Ông Thông Minh S sống không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn nên vợ chồng thường xảy ra cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vì không thể tiếp tục sống chung nên bà Thông Thị B về nhà cha mẹ ruột, hai người đã không còn sống chung đến nay đã hơn 05 năm. Nay bà Thông Thị B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Thông Minh S.

Về con chung: Bà Thông Thị B và ông Thông Minh S có với nhau 04 con chung: Thông Minh N, sinh năm 2007, Thông Minh A, sinh năm 2009, Thông Minh G, sinh năm 2015 và Thông Minh Q, sinh năm 2018. Khi ly hôn, bà Thông Thị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung, không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, bà Thông Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

- Đối với bị đơn ông Thông Minh S.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Thông Minh S không đến Tòa làm việc cũng không trình bày ý kiến của mình mặc dù Tòa án đã triệu tập, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, ông Thông Minh S vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không tuân thủ đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Qua lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Bà Thông Thị B yêu cầu ly hôn, ông Thông Minh S không đến Tòa trình bày ý kiến. Xét tình trạng hôn nhân của bà Thông Thị B và ông Thông Minh S thấy rằng mâu thuẫn giữa ông bà không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thông Thị B. Về con chung: Bà Thông Thị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung: Thông Minh N, sinh năm 2007; Thông Minh A, sinh năm 2009; Thông Minh G, sinh năm 2015 và Thông Minh Q, sinh năm 2018. Xem xét khả năng điều kiện nuôi con của bà Thông Thị B đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Thông Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung: Thông Minh N, Thông Minh A, Thông Minh G và Thông Minh Q. Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật; Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đơn khởi kiện của bà Thông Thị B được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Bà Thông Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Thông Minh S. Người bị kiện là ông Thông Minh S có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn ông Thông Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thông Minh S là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Thông Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa ông Thông Minh S và bà Thông Thị B đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa ông bà nảy sinh theo như bà Thông Thị B trình bày là do bất đồng quan điểm, ông S sống không có trách nhiệm với vợ con nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và bà Thông Thị B bỏ về nhà cha mẹ ruột ở, hai người đã không còn sống chung đã 05 năm nay. Quá trình giải quyết, ông Thông Minh S không đến Tòa làm việc.

Xem xét tình trạng hôn nhân giữa bà Thông Thị B và ông Thông Minh S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa bà Thông Thị B và ông Thông Minh S đã xảy ra mặc dù ông bà đã tìm nhiều cách hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả và thực tế hiện nay, ông bà đã không còn tin tưởng, tôn trọng nhau. Quá trình giải quyết, ông Thông Minh S vắng mặt không đến Tòa trình bày ý kiến. Tại phiên tòa ông Thông Minh S vẫn vắng mặt, bà Thông Thị B vẫn kiên quyết ly hôn, chứng tỏ ông bà không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông bà đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thông Thị B là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Quá trình giải quyết, bà Thông Thị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung: Thông Minh N, sinh năm 2007; Thông Minh A, sinh năm 2009; Thông Minh G, sinh năm 2015 và Thông Minh Q, sinh năm 2018. Xét yêu cầu nuôi con của bà Thông Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian ông bà không còn sống chung với nhau, bà Thông Thị B là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, bà vẫn đảm bảo nuôi dạy con tốt. Để đảm bảo quyền lợi cho các con về mọi mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Thông Thị B trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung: Thông Minh N, sinh năm 2007; Thông Minh A, sinh năm 2009; Thông Minh G, sinh năm 2015 và Thông Minh Q, sinh năm 2018 là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vấn đề cấp dưỡng, bà Thông Thị B không yêu cầu ông Thông Minh S phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có

[6] Về nợ: Không có.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bà Thông Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 147, Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thông Thị B.

Bà Thông Thị B được ly hôn với ông Thông Minh S.

2. Về con chung: Giao cho bà Thông Thị B trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung: Thông Minh N, sinh năm 2007; Thông Minh A, sinh năm 2009; Thông Minh G, sinh năm 2015 và Thông Minh Q, sinh năm 2018.

Ông Thông Minh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

4. Về án phí: Bà Thông Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Thông Thị B đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0013593 ngày 30.12.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bà Thông Thị B đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2023). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại nơi cư trú.

Cỡ chữ