- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn; tranh chấp con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/5/2023. V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Vũ Xuân Thụ.
Ông Hoàng Tuyển.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2023 về việc: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐ-HPT ngày 27/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc A, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc A trình bày:
Tôi và anh Nguyễn Quang T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra xung đột, bất hòa với nhau. Anh T thường xuyên rượu chè, đánh tôi gãy xương sườn. Tôi và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên tôi xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 08/7/2021. Tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến tuổi trưởng thành. Tôi không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Quang T trình bày: Tôi và chị Lê Thị Ngọc A tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thì có xảy ra một số mâu thuẫn, tuy nhiên theo tôi chưa đến mức phải ly hôn. Vợ tôi cho rằng tôi có uống rượu và đánh vợ gãy xương sườn thì hoàn toàn không có. Nay cô A có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn thì tôi không đồng ý.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 08/7/2021. Trường hợp ly hôn tôi đồng ý giao con chung cho vợ tôi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc A; Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Quang T; Về con chung: Cần giao cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 08/7/2021 cho chị Lê Thị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Ngọc A không yêu cầu anh Nguyễn Quang T cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc A đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Quang T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, nguyên đơn; bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 14/02/2020 tại UBND xã H, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Qua lời trình bày của chị A thì chị A và anh T thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh T thường xuyên rượu chè, đánh đập chị A, chị A và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T; Anh T không đồng ý ly hôn, cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra một số mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị A và anh T sinh sống, việc mâu thuẫn vợ chồng, chị A và anh T không báo với chính quyền địa phương nên địa phương không nắm rõ. Nay chị A có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, cho chị A được ly hôn với anh T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị A và anh T có một người con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 08/7/2021, cháu Đ dưới 36 tháng tuổi, hiện cháu đang ở với mẹ, chị A có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành và được anh T đồng ý. Vì vậy, cần giao cháu Đ cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Ngọc A không yêu cầu anh Nguyễn Quang T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết.
Anh Nguyễn Quang T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc A phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc A.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 08/7/2021 cho chị Lê Thị Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Ngọc A không yêu cầu anh Nguyễn Quang T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Quang T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 60AA/2021/0011230 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Viện KSND huyện Ea H’leo; - Chi cục THADS huyện E; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lưu Thị Ngọc Thủy |