vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều P.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều P được ly hôn với ông Bùi Minh T. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015; cho bà P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 7/7/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, khi ly hôn
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Danh
Ông Lâm Ngọc Hà
Châu Thành.
Kiều – Kiểm sát viên.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng
10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, khi ly hôn” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 18/5/2023; Quyết định
hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13/6/2023; giữa các đương sự:
vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đắc T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Bùi Minh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đắc T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều P trình bày:

Bà và ông T kết hôn năm 2009, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Thời gian đầu bà P và ông T chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, không quan tâm chia sẻ, thường xuyên cự cãi, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm sống.

Từ năm 2021 đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai nữa.

Nay bà P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy bà P làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà P khai vợ chồng có 02 con chung tên: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015.

Khi ly hôn, bà yêu cầu xin nuôi dưỡng 02 con chung: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015; và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐINH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều Pcó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng ông T đều vắng mặt; nên Hội đồng xét xử xét áp dụng khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà và ông.

[2]Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T là quan hệ hợp pháp. Qua quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, được cha mẹ hai bên đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà P xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà P có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, ông T từ khi thụ lý, hòa giải cũng như tại phiên Tòa hôm nay đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày gì đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Từ khi phát sinh mâu thuẫn cho đến nay bà P là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015. Cũng tại biên bản ghi lời khai ngày 04/5/2023 của cháu Bùi Minh T và biên bản ghi lời khai ngày 18/11/2022 của cháu Bùi Minh P; cả 02 cháu đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ, nên Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà P, giao 02 cháu: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015 cho bà P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

[4]Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

[6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí:Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân.

[8] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều P đối với bị đơn Bùi Minh T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều P được ly hôn với bị đơn Bùi Minh T; giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015; bị đơn T không phải cấp dưỡng nuôi con.Tài sản chung, không có; nợ chung không có, không đặt ra xem xét.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội Đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227;khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều P.

1.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều P được ly hôn với ông Bùi Minh T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Bùi Minh T, sinh ngày 03/10/2010; Bùi Minh P, sinh ngày 19/03/2015; cho bà P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.

2.1. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.2. Ông Bùi Minh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung:Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều P phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0005660, ngày 28/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng; bà P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ