- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Danh L khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Bé H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Danh L và chị Nguyễn Thị Bé H.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiện
2. Ông Huỳnh Đạt Vân
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2023/QĐST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Danh L, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Danh L trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2005, anh Danh L và chị Nguyễn Thị Bé H quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Lyêu cầu được ly hôn với chị Bé Hvà yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: Anh Lvà chị Bé Hcó 01 con chung tên Danh Thành D, sinh ngày 05-3-2006, hiện nay anh Lđang nuôi dưỡng. Anh Lyêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Bé Hcấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lxác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Bé H: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.
Tại phiên tòa chị Bé Hvắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 20-02-2023 anh Danh L có đơn khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Bé H. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Bé H chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Danh L, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Bé Hvẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh L và chị Nguyễn Thị Bé H chung sống với nhau vào năm 2005 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân không hợp pháp, vì đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Do đó, không công nhận anh Danh L và chị Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng là phù hợp pháp luật.
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bé H và anh Danh L có 01 con chung tên Danh Thành D, sinh ngày 05-3-2006, anh Lyêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Bé Hcấp dưỡng nuôi con vì anh có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.
Xét thấy, hiện nay cháu D đang sống chung với anh Lvà được anh Lchăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Bên cạnh đó, cháu D cũng có nguyện vọng được ở với cha. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của anh Lđược tiếp tục nuôi cháu D. Anh Lkhông yêu cầu chị Bé Hcấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Bé Hđúng theo quy định pháp luật nhưng chị Bé Hvẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Lvà chị Bé Hđược. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà anh Lxác nhận trong thời gian chung sống cùng chị Bé H, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Anh Danh L là nguyên đơn trong vụ án, do đó anh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Danh L và chị Nguyễn Thị Bé H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Danh Thành D, sinh ngày 05-3-2006 cho anh Danh L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lkhông yêu cầu chị Nguyễn Thị Bé H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị Nguyễn Thị Bé H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Danh L phải nộp 300.000 đồng nhưng anh Lđược khấu trư tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005391 ngày 21-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh Lkhông phải nộp thêm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
5. Quyền kháng cáo: Anh Danh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Bé H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát ND huyện Châu Thành; - Chi cục Thi hành án DS huyện Châu Thành; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |