- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Vân A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/2022 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Bửu Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Minh Tân
2. Bà Bùi Thanh Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Tổ 01, ấp P, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Trương Duy P, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Tổ 01, ấp P, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị A có mặt, anh P vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/12/2020 và biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2021, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trương Duy P tự quen biết, qua tìm hiểu 01 năm rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn, anh chị được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/11/2015.
Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh chị không có con, tính tình không hợp, cả hai thường cãi nhau vì những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống. Đến tháng 10/2020, chị biết được anh P có mối quan hệ tình cảm nam nữ với người phụ nữ khác, chị đã cho anh P cơ hội sửa sai, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh P không thay đổi mà vẫn qua lại với người phụ nữ đó, mâu thuẫn cứ xảy ra liên tục, tình cảm không thể nào hàn gắn được nữa nên cả hai cũng đã ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng đã lạnh nhạt, không thể nào hàn gắn được nữa nên chị A không còn tình cảm với anh P yêu cầu ly hôn anh Trương Duy P.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trương Duy P để làm việc và hòa giải nhưng anh P đều vắng mặt và tại phiên tòa hôm nay, anh P tiếp tục vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Tuy nhiên qua xác minh, bà nội anh P là bà Lê Thị S cho biết anh P, chị A cưới nhau khoảng 6-7 năm, sau khi cưới thì cả hai đi làm công nhân và sống tại nhà anh P. Trong quá trình chung sống, bà không thấy vợ chồng anh chị mâu thuẫn gì, nguyên nhân chính cả hai mâu thuẫn dẫn đến việc ly thân là do không có con chung, A cũng không có mâu thuẫn gì với gia đình bên chồng. Vợ chồng A, P ly thân khoảng 03 năm nay, trong đó có 01 năm sống tại nhà P nhưng ngủ riêng, sau đó A về nhà cha mẹ ruột sống P đi làm ở xa. Việc Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa A và P bà S có cho P biết nhưng P không có ý kiến gì, cũng không nói gì với bà S và bỏ đi làm. Bà S cũng không nghe P nói gì về tài sản chung của vợ chồng hay về nợ chung.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn không chấp hành pháp luật, vắng mặt trong phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, làm cho việc giải quyết vụ án chưa nhanh chóng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A về việc xin ly hôn anh P. Về con: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Vân A khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trương Duy P hiện cư trú tại tổ 01, ấp P, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, Tòa án huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nơi bị đơn cư trú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn trong vụ án: Tại phiên tòa, bị đơn anh Trương Duy P tuy đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Xét yêu cầu của chị A về việc yêu cầu ly hôn anh P, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trương Duy P chung sống có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/11/2015 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa anh chị đã phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng chung sống cũng không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn xảy ra liên tục, chị A cho rằng anh P có mối quan hệ tình cảm nam nữ với người phụ nữ khác, chị đã cho anh P cơ hội sửa sai, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh P đã không thay đổi, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2021 đến nay. Hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không thể nào hàn gắn được nữa nên chị A yêu cầu ly hôn anh P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Mặt khác, tại các lần Tòa án mời làm việc, hòa giải và xét xử anh P đều vắng mặt không lý do, cho thấy anh P hoàn toàn không có thiện chí hàn gắn tình cảm cùng với chị A.
Về con chung: Chị A và anh P chung sống chưa có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Do chị A xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án: Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật, phù hợp các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị A phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 8,9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Vân A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân A. Chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Trương Duy P.
2. Về con chung: Chị A và anh P chung sống chưa có con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013241 ngày 16/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Nguyễn Thị Vân A đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bán án theo quy định của luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tỉnh (1); - VKSND Huyện (1); - THADS Huyện (1); - Lưu: VT, HSVA (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Bửu Linh |