vanban.org

Bản án 38/2022/QĐ-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Huỳnh Thị Đ

Tuyên bố: Bà Huỳnh Thị L nơi cư trú cuối cùng Thôn 8, xã Cư Bua, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mất tích. Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, the… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Huỳnh Thị Đ
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2022/QĐ- VDSBuôn Ma Thuột, ngày 04 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người bị mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ trì phiên họp: Ông Lê Viết Kiên

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hoài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Tp Buôn Ma Thuột mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 21/2022/TLST-VDS ngày 19/5/2022, theo Quyết định mở phiên họp số: 86/2022/QĐST-VDS ngày 27 tháng 10 năm 2022:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị Đ- sinh năm: 1982 (có mặt)

Địa chỉ: 37 NTT, phường Thành Nhất, TP Buôn Ma Thuột

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Huỳnh Thị L- sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 8, xã CB, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Bà Huỳnh Thị Ng, bà Huỳnh Thị Ph, bà Huỳnh Thị Lâm O, ông Huỳnh Văn Ch, ông Huỳnh Kim L1, Ông Huỳnh Văn V. (có đơn từ chối tham gia tố tụng)

Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã CB, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Huỳnh Trung Ngh và bà Nguyễn Thị H (hiện nay đều đã chết) sinh được 09 người con bao gồm bà Huỳnh Thị Đ, bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Ng, bà Huỳnh Thị Ph, bà Huỳnh Thị D (đã chết), ông Huỳnh Văn Ch, ông Huỳnh Kim L, ông Huỳnh Văn V và ông Huỳnh Văn Q (đã chết). Khi chết ông Huỳnh Trung Ngh và bà Nguyễn Thị H không để lại di chúc, hiện các anh, chị em làm thủ tục phân chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại, do mâu thuẫn gia đình bà Huỳnh Thị L đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 8/1995. Bà L bỏ đi đâu không ai biết, không có tài sản tại địa phương. Gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà L. Địa chỉ cuối cùng trước khi bà Lê bỏ đi là Thôn 8, xã Cư Bua, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy bà Huỳnh Thị Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị L mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, có cơ sở xác định bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 8, xã Cư Bua, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã bỏ nhà đi từ năm 1995 đến nay không có tin tức gì, khi đi bà L không báo cho chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay bà L đang ở đâu, làm gì. Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cũng đã làm thủ tục tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến nay vẫn không có tin tức của bà L. Vì vậy căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 27; Điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị Đ và tuyên bố bà Huỳnh Thị L mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột nhận định:

Bà Huỳnh Thị Đlà em ruột của bà Huỳnh Thị L, vào tháng 8/2015 bà Huỳnh Thị Lbỏ nhà đi. Bà Huỳnh Thị L bỏ đi đâu không ai biết, không có tài sản tại địa phương. Gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà Huỳnh Thị L. Địa chỉ cuối cùng trước khi bà L bỏ đi Thôn 8, xã Cư Bua, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã làm thủ tục tìm kiếm bà Huỳnh Thị L trên các phương tiện thông tin đại chúng và xác minh nơi cư trú cuối cùng của bà Huỳnh Thị L theo quy định của pháp luật nhưng đến nay vẫn không có tin tức của bà Huỳnh Thị L.

Xét yêu cầu của bà Huỳnh Thị Đ đề nghị Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị L mất tích là có căn cứ và phù hợp Điều 68 Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.

Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm và chi phí đăng thông báo, nhắn tin theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ nghị quyết số: 326/2009/UBTVQH, ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Huỳnh Thị Đ

Tuyên bố: Bà Huỳnh Thị L nơi cư trú cuối cùng Thôn 8, xã Cư Bua, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mất tích.

Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, theo biên lai thu số AA/2021/0012796 ngày 29 tháng 4 năm 2022.

Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 2.425.000 đồng lệ phí thông báo nhắn tin được khấu trừ số tiền Bà Huỳnh Thị Đ đã nộp tại Tòa án để chi phí.

2. Người yêu cầu được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết.

Cỡ chữ