- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Kiều Hoa và Nguyễn Phước Sang"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Kiều H là được ly hôn với anh Nguyễn Phước S. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22 ngày 12/02/2014 do Uỷ ban nhân dân thị trấn A (huyện T, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 38/2022/NHGĐ-ST Ngày: 18/5/2022. Về việc: “Tranh chấp về Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Hồng Thắm;
2. Ông Phan Văn Dân.
* Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 60/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022, về việc “Tranh chấp về Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kiều H, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: Tổ 11, ấp P II, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phước S, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Tổ 18, ấp P II, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang.
(Các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Kiều H và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Bùi Thị Kiều H sống chung với anh Nguyễn Phước S từ năm 2011, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân thị trấn A (giấy đăng ký kết hôn số 22 ngày 12/4/2014); Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Minh H sinh ngày 05/3/2012 đang sống chung với anh S và Nguyễn Minh Đ sinh ngày 29/8/2019 sống chung với chị Kiều H.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Bùi Thị Kiều H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phước S; Về con chung theo ai người đó nuôi, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Nguyễn Phước S thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Nguyễn Phước S có nơi cư trú tại Tổ 18, ấp P II, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang; Hiện tại anh Nguyễn Phước S có mặt tại địa phương, những Thông báo của Tòa án gửi thì gia đình ký nhận thay nhưng vẫn không có mặt. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Phước S có mặt và xác nhận lời trình bày của chị Bùi Thị Kiều H về quan hệ vợ chồng, con chung và mâu thuẫn là đúng, đồng thời cũng đồng ý ly hôn; Về con chung, tài sản không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là Tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Phước S có mặt và không có ý kiến gì về quá trình tố tụng nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kiều H đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Nguyễn Phước S từ năm 2011 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Hoa xin được ly hôn với anh S. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Hoa và anh S đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Nguyễn Phước S để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh S không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt và tại phiên tòa đã đồng ý ly hôn với chị Kiều H. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Kiều H là được ly hôn với anh Nguyễn Phước S.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Bùi Thị Kiều H và anh Nguyễn Phước S thừa nhận 02 cháu Nguyễn Minh H sinh ngày 05/3/2012 và Nguyễn Minh Đ sinh ngày 29/8/2019 là con chung của anh, chị và giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện điều này, do đó cần công nhận các cháu là con chung của chị Hoa và anh S, đồng thời các bên không tranh chấp về việc nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Bùi Thị Kiều H có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phước S nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Kiều H là được ly hôn với anh Nguyễn Phước S. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22 ngày 12/02/2014 do Uỷ ban nhân dân thị trấn A (huyện T, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Có 02 con chung Nguyễn Minh H sinh ngày 05/3/2012 và Nguyễn Minh Đ sinh ngày 29/8/2019; Không yêu cầu giải quyết.
* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.
* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Bùi Thị Kiều H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0002874 ngày 14/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; Được khấu trừ nên chị Bùi Thị Kiều H đã nộp xong.
Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh An Giang; - VKSND H.Châu Thành; - Chi cục THADS H.Châu Thành; - UBND xã Bình Phú; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |