- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HSST Ngày 12 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn.
Ông Đặng Tiễn Vinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2022/HSST ngày 19/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 30/8/2022 đối với bị cáo:
Lê Cao C, sinh năm 1971; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn N, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; con ông Lê Khắc C (đã chết) và bà Phan Thị C (đã chết); vợ: Trần Thị B, sinh năm 1977; có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999 (hiện vợ, con đang trú tại xã Đức Bác, huyện Sông Lô); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2022 đến ngày 13/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Hoàng Đ, sinh năm 1998. (vắng mặt)
Lê Quang T, sinh năm 1986. (vắng mặt)
Bùi Mạnh C, sinh năm 1997. (vắng mặt)
Lê Cao K, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Đều trú tại xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 10/7/2022, Lê Cao C ở thôn N, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã một mình bán số lô, số đề cho các đối tượng đến mua. Cụ thể như sau: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/7/2022, Trần Hoàng Đ ở thôn K, xã Đ, huyện Sông Lô, một mình đi đến nhà C để mua số lô, số đề. Khi đến nơi, Đ nói với Cảnh: “Ghi cho em mấy con lô?” C đồng ý. Sau đó Đ đọc các con số lô 99, 18 mỗi số 30 điểm, C ghi số lô vào 01 bảng kê dự thưởng xổ số. Tổng số tiền Đ phải trả cho C là 1.380.000đ. Đ đưa đủ số tiền trên cho C rồi đi về.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Quang T ở thôn K, xã Đ, huyện Sông Lô đi đến gặp C và hỏi: “Ghi cho em mấy con lô, đề?” C đồng ý. Sau đó T đọc cho C ghi vào 01 bảng kê dự thưởng xổ số mà trước đó đã ghi cho Đ, gồm các con số lô 00 = 50 điểm; lô 53, 88, 95, 23 mỗi số 25 điểm; Xiên ba: 35, 53, 23 với giá 100.000 đ; ba càng 400 với giá 50.000 đ. Tổng số tiền T phải trả cho C hết số tiền 3.600.000đ. T trả tiền cho C xong rồi đi về.
Tiếp đó đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, Bùi Mạnh C ở thôn K, xã Đ, huyện Sông Lô đến gặp C và hỏi: “Ghi cho cháu mấy con lô, đề?” C đồng ý. Sau đó C đọc cho C ghi vào 01 bảng kê dự thưởng xổ số mà trước đó đã ghi cho Đ và T, gồm các con số lô 23, 05, 67, 27 mỗi số 50 điểm; số đề: 23, 05, 67, 27 mỗi số với giá 50.000 đ. Tổng số tiền C mua các số lô, số đề của C là 4.800.000đ. C đã trả đủ số tiền trên cho C. Cùng lúc này, Lê Cao K ở thôn K, xã Đ, huyện Sông Lô đến gặp C và nói: “Ghi cho tôi con đề” C đồng ý. Sau đó K đọc cho C ghi vào 01 bảng kê dự thưởng xổ số mà trước đó đã ghi cho Đ, T và C, gồm các con số đề 01, 10 mỗi số với giá 10.000 đ. Tổng số tiền K mua số đề của C là 20.000đ. K đưa cho C số tiền trên.
Khi C đang kiểm đếm số tiền mà Cg và K vừa trả thì lực lượng Công an huyện Sông Lô phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang. Thu giữ số tiền là 4.620.000đ của C cùng toàn bộ vật chứng có liên quan. Ngay sau đó, C đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.580.000đ, trong đó có 1.380.000đ là tiền của Đ trả cho C, 200.000đ là tiền C trả cho C để mua số lô, số đề.
Ngày 26/7/2022, C tiếp tục tự nguyện nộp số tiền 3.600.000đ là tiền Lê Quang T đã mua số lô, số đề của C.
Tại Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô, Lê Cao C đã thừa nhận hành vi mua bán số lô, số đề cho C, T, K, Đ như đã nêu trên. Đến thời điểm bị bắt quả tang chưa có kết quả xổ số miền Bắc ngày 10/7/2022 nên chưa xác định được người thắng, người thua. Do đó, xác định tổng số tiền C nhận bán số lô, số đề trong ngày 10/7/2022 là 9.800.000đ.
Quá trình điều tra, C và các đối tượng đều khai nhận thống nhất mức sát phạt trúng số lô, số đề và ba càng là: Kết quả lô, đề căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 phút hàng ngày để làm căn cứ xác định thắng hay thua. Số lô là số người mua đối chiếu với hai số cuối của tất cả các giải mở thưởng, nếu có số lô nào trùng thì người đó thắng. Một điểm lô tương ứng với số tiền người mua phải bỏ ra là 23.000đ, nếu không trúng thì người mua mất 23.000đ, nếu trúng thì người mua được trả 80.000đ/01 điểm. Số đề là số mà người mua đối chiếu với hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, nếu trùng là trúng thưởng và được trả nhân 70 lần số tiền đã mua. Số ba càng là số mà người mua so sánh với giải đặc biệt, nếu số mua trùng với ba số cuối giải đặc biệt là trúng thưởng, mức thắng thua là 1.000đ được 400.000đ.
Đối với Bùi Mạnh C, Trần Hoàng Đ, Lê Cao K, Lê Quang T có hành vi mua số lô, số đề và số ba càng của C đều dưới 5.000.000đ. Bản thân C, Đ, K, T chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy, Công an huyện Sông Lô đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với C, Đ, K, T là có căn cứ.
Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSSL ngày 18 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Lê Cao C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo La giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Cao C từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt tiền sung quỹ Nhà nước từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Lê Cao C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người liên quan, lời khai của người làm chứng và vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng thời gian từ 15 giờ đến 18 giờ ngày 10/7/2022, tại nhà ở của mình, tại thôn N, xã Đ, huyện Sông Lô, bị cáo Lê Cao C đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho các đối tượng Trần Hoàng Đ, Lê Quang T, Bùi Mạnh C và Lê Cao K với tổng số tiền 9.800.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng. Hành vi nêu trên của Cảnh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó bản cáo trạng số: 39/CT-VKSSL ngày 18/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố bị cáo Lê Cao C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác đồng thời làm gia tăng các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội của Đảng và Nhà nước đang loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những người khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
. Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình xét xử bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ thể hiện hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn bản thân mắc nhiều bệnh nền đang phải điều trị. Ngoài lần vi phạm pháp luật đó ra thì bị cáo luôn thực hiện tốt nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú và được chính quyền địa phương xác nhận. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và có đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại mục a phần 2 điểm a khoản 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có khả năng tự cải tạo, bị cáo có nơi cư trú ổn định, hành vi của bị cáo chưa đến mức độ phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Như vậy cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung, xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định bị cáo Cảnh có tài sản nhưng giá trị không lớn, bị cáo trong độ tuổi lao động. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy để nâng cao tính răn đe, phòng ngừa chung, nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.800.000đ C bán số lô, số đề trái phép. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi không còn giá trị sử dụng.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội: “Đánh bạc”.
2. Áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lê Cao C 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Phạt Lê Cao C 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Giao Lê Cao C cho UBND xã Đ, huyện Sông Lô giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật này.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.800.000đ; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi vỏ màu xanh đã cũ không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2022 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
3. Án phí: Buộc bị cáo Lê Cao C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô; -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã Đ; -Bị cáo; Người có QLNV liên quan; -Lưu hs; Vp. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC Vào 10 hồi giờ 00 phút ngày 12 tháng 9 năm 2022; Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành 19 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo: Lê Cao Cảnh, sinh năm 1971. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. Cao Cảnh phạm tội “Đánh bạc”. và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. để sung quỹ Nhà nước. dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật này. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. 5/ Về xử lý vật chứng, án phí hình sự: sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi vỏ màu xanh đã cũ không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2022 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô). Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. Vĩnh Tường trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. quyền kháng cáo theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 12 tháng 9 năm 2022. xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT Lê Thanh Sơn Đặng Tiến Vinh | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiên Thành CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn và ông Đặng Tiễn Vinh. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/HSST ngày Trú tại: thôn Nam Giáp xã Đức Bác, huyên Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để 2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm 3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Lê Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 4/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Cao Cảnh 10 (mười) tháng tù cho Về hình phạt bổ sung: Phạt Lê Cao Cảnh 10.000.000đ (mười triệu đồng) Giao Lê Cao Cảnh cho UBND xã Đức Bác, huyện Sông Lô giám sát, giáo Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.800.000đ. Tịch Về án phí: Bị cáo Lê Cao Cảnh phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện 7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiên Thành |