- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Đặng Việt H và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HSST Ngày: 16 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiền và ông Văn Anh Trình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXX-ST, ngày 15 tháng 7 năm 2022, đối với:
1. Bị cáo Đặng Việt H, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2003 tại H, Q, Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không nghề; trình đ học v n: 9/12; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; con à Đặng Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 3 năm 2022, hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
2. Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2004 tại H, Q, Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không nghề; trình đ học v n: 10/12; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 3 năm 2022, hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Diệp Thị L, sinh năm 1974; nghề nghiệp: Kinh doanh; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
2. Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 1997; nghề nghiệp: Nhân viên khách sạn; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 19 tháng 3 năm 2022, Đặng Việt H và Nguyễn Văn T cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy về để sử dụng. Khoảng 16 giờ ngày 20 tháng 3 năm 2022, H gặp T ở thôn T, xã H, huyện Q hỏi mua ma túy; đến 20 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại hỏi Hg ở đâu để đem ma túy đến án, H ảo đang ở tại phòng nghỉ 401, khách sạn H ở thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tại phòng nghỉ 401 có Nguyễn Văn Tn ở cùng H, T góp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) và Đặng Việt H góp 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) để mua ma túy. Đặng Việt H cầm 1.400.000 đồng (m t triệu ốn trăm nghìn đồng) xuống khách sạn gặp T và mua được 26 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Sau khi mua xong, H cầm số ma túy nói trên đi lên phòng nghỉ 401 của Khách sạn H, tại đây T và H cùng nhau sử dụng hết 13 viên ma túy tổng hợp. Đến 20 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2022, Công an xã X tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng nghỉ 401 phát hiện trong phòng có 01 (m t) chai nhựa trong suốt trên thân chai có đục 01 lổ cắm tờ gi y là dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy. Tiếp tục kiểm tra, Công an xã X phát hiện tại túi quần sau bên phải của Nguyễn Văn T có 02 (hai) túi nilon trong suốt, trong túi ni lon thứ nh t có chứa 06 (sáu) viên nén hình tròn màu hồng trên ề mặt mỗi viên đều có in chữ “WY” và trong túi ni lon thứ hai có 06 (sáu) viên nén hình tròn màu hồng trên ề mặt mỗi viên nén đều có in chữ “WY” và m t số mảnh vỡ vụn màu hồng. Công an xã X tiến hành lập iên ản ắt người phạm t i quả tang tạm giữ số ma túy nêu trên và chuyển giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh điều tra theo thẩm quyền
Tại ản kết luận giám định số 371/GĐ-PC09 ngày 23-3-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 12 (mười hai) viên nén màu hồng trên ề mặt mỗi viên đều có in chữ “WY” và m t số mảnh vỡ vụn màu hồng là ch t ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,383g (m t phẩy a trăm tám mươi a gam) nằm trong danh mục các ch t ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.
Về vật chứng: Ngày 22 tháng 3 năm 2022, cơ quan điều tra thu giữ từ Đặng Việt H 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xám, màn hình ị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng; tạm giữ từ Nguyễn Văn T 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu VIVOY21, màu xanh, máy đã qua sử dụng. 01 (m t) chai nhựa dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép ch t ma túy; 01 (m t) ật lửa màu đỏ ằng nhựa, trên thân có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT”
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-MT, ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố ị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T về t i “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra, Đặng Việt H và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn
hành vi phạm t i của mình như đã nêu trên, đúng như n i dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát iểu quan điểm, luận t i chứng minh ị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi phạm t i tàng trữ trái phép ch t ma túy loại Methamphetamine, số lượng 12 viên và m t số mảnh vỡ vụn màu hồng, khối lượng 1,383 gam. Cáo trạng truy tố đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.
Đề nghị H i đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của B luật hình sự, xử phạt Đặng Việt H mức án từ 12 đến 18 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 12 đến 18 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của B luật hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của B luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định, 01 (m t) chai nhựa dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép ch t ma túy; 01 (m t) ật lửa màu đỏ ằng nhựa, trên thân có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT”; trả lại 01 điện thoại di đ ng PHONE 12 PROMAX màu xám cho ị cáo Đặng Việt H, 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu VIVOY21, màu xanh cho ị cáo Nguyễn Văn T.
Bị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận t i của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm t i của mình, tỏ thái đ ăn năn hối cải, xin H i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, sớm trở về hòa nhập c ng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các ị cáo thống nh t, phù hợp với iên ản ắt người phạm t i quả tang, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn iến của vụ án. Do đó, H i đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ ngày 20 tháng 3 năm 2022, Đặng Việt H góp 800.000 đồng và Nguyễn Văn T góp 600.000 đồng để mua ma túy về sử dụng tại Khách sạn H ở thôn X, xã X. Tại đây, T và H cùng nhau sử dụng hết 13 viên ma túy tổng hợp. Đến 20 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2022, Công an xã X ắt quả tang Nguyễn Văn T tàng trữ ở túi quần sau bên phải 12 viên nén màu hồng và m t số mảnh vở vụn màu hồng, có khối lượng 1,383 (m t phẩy a trăm tám mươi ba gam) là ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Các Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép ch t ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã h i, có tính ch t nghiêm trọng, xâm phạm đến chế đ đ c quyền quản lý các ch t ma tuý của Nhà nước, gây m t trật tự trị an trên địa àn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của ản thân các ị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm t i. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của ị cáo Đặng Việt Hoàng và Nguyễn Văn Tuân có đủ yếu tố c u thành t i “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các ị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự. Bị cáo Đặng Việt H có mẹ đơn thân ị nhiễm ch t đ c da cam, ị cáo là lao đ ng chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự.
Xét vai trò của các ị cáo trong vụ án, H i đồng xét xử nhận th y đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính ch t giản đơn, các ị cáo cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy sử dụng, không có chuẩn ị, sự àn ạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, ị cáo Hoàng là người trực tiếp mua ma túy và góp số tiền nhiều hơn, ị cáo Tuân là người tàng trữ số ma túy trong túi quần. Do đó, các ị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm.
H i đồng xét xử th y trên cơ sở tính ch t, mức đ nguy hiểm cho xã h i của hành vi phạm t i, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét th y cần thiết phải cách ly các ị cáo ra khỏi đời sống xã h i m t thời gian nh t định, đồng thời cần có m t mức hình phạt phù hợp đối với từng ị cáo nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo các ị cáo thành công dân có ích cho xã h i.
Trong vụ án này, Bị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T khai nhận cả hai cùng góp tiền để H đi mua ma túy từ m t người tên T không rõ năm sinh ở thôn T, xã H. Qua xác minh, đối tượng tên T có tên đầy đủ Nguyễn Hoàng T n T, sinh năm 2000. Hiện tại, T không có mặt tại địa phương không rõ đi đâu từ đầu tháng 3/2022. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý sau.
Qúa trình điều tra, xác định chủ khách sạn H là của à Diệp Thị L, sinh năm 1974, ở thôn X, xã X. Chị Lê Thị Hồng N sinh năm 1997, ở thôn X, xã X là lễ tân của khách sạn. Chị L và chị N đều không iết việc Nguyễn Văn T và Đặng Việt H phòng nghỉ của khách sạn H để sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng vụ án: Khối lượng ch t ma túy thu giữ trong vụ án sau khi đã giám định còn 1,244 gam là vật c m tàng trữ, lưu hành; 01 (m t) chai nhựa dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép ch t ma túy; 01 (m t) ật lửa màu đỏ ằng nhựa, trên thân có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của B luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của B luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xám, màn hình ị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng của Đặng Việt H; 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu VIVOY21, màu xanh, máy đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T không liên quan đến việc tàng trữ ma túy nên cần trả lại cho các ị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 của B luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của B luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T phải n p án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 36; điểm c khoản 1 Điều 47 của B luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của B luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên ố bị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T phạm t i “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của B luật hình sự. Xử phạt ị cáo Đặng Việt H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 22 tháng 3 năm 2022.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự. Xử phạt ị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 22 tháng 3 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy vật 1,244 gam (m t phẩy hai trăm ốn mươi ốn gam) Methamphetamine đã được niêm phong trong phong bì số 371/GĐ-PC09 ngày 29/3/2022; 01 (m t) chai nhựa dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép ch t ma túy; 01 (m t) ật lửa màu đỏ ằng nhựa, trên thân có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT”.
Trả lại cho ị cáo Đặng Việt H 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xám, màn hình ị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng; trả lại cho ị cáo Nguyễn Văn T 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu VIVOY21, màu xanh, máy đã qua sử dụng. T t cả vật chứng, tài sản trên có đặc điểm như trong iên ản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 12 tháng 7 năm 2022.
3. Án phí sơ thẩm: Bu c ị cáo Đặng Việt H và Nguyễn Văn T mỗi ị cáo phải n p 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quảng Ninh; - Công an huyện Quảng Ninh; - Các bị cáo; - Những người TGTT khác; - Chi cục THA huyện Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan THAHS tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |