- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo NHT phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo N.H.T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HSST Ngày 18/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH
THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn T
2. Ông Thông Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Mỹ Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 18/5/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/HSST ngày 20/4/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HS ngày 04/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: N.H.T; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000, tại Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T.Đ, xã T.Th, thành phố P.T1, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở : Không ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; con của ông: N.Đ.H, sinh năm 1980; con của bà: L.T.H1, sinh năm 1977; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 24/01/2022 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. H.M.Q - sinh ngày 22/12/2005 (vắng mặt) Địa chỉ: khu phố x, phường L.Đ, thành phố P.T1, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật của H.M.Q: ông H.M.D1 – sinh năm 1953 và bà H T K – sinh năm 1960 (vắng mặt) Trú tại: khu phố x, phường L.Đ, thành phố P.T1, tỉnh Bình Thuận 2. T.M.P – sinh năm 2002 (vắng mặt) Trú tại: ấp H1.N, xã L.Th, huyện L.V, tỉnh Đ.Th
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo N.H.T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 13/01/2021, tại vựa thanh long Kiên Sinh thuộc thôn Dân Bình, xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T.M.P (sinh năm 2002, thường trú ấp Hoà Ninh, xã L.Th, huyện L.V, tỉnh Đ.Th) cùng với H.M.Q (sinh năm 2005, thường trú khu phố x, phường L.Đ, thành phố P.T1, tỉnh Bình Thuận) và N.H.T (sinh năm 2000, thường trú thôn T.Đ, xã T.Th, thành phố P.T1, tỉnh Bình Thuận) góp tiền mua ma tuý về cùng sử dụng. P góp 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Q góp 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng, T góp 60.000 (sáu mươi nghìn) đồng. Sau khi thoả thuận xong, khoảng 12 giờ cùng ngày, P và Q điều khiển xe mô tô đến khu vực vựa thanh long Kiên Kiên thuộc xã Hàm Cường, P thông qua đối tượng Tí Em (chưa xác định được lai lịch) liên hệ với một thanh niên (không rõ họ tên, lai lịch) tại xã Hàm Cường mua được một gói ma tuý trị giá 200.000 đồng rồi cả hai quay lại vựa thanh long Kiên Sinh. Tại đây, P, T, Q cùng nhau lấy ma tuý ra cho vào nỏ (dụng cụ sử dụng ma tuý) đốt sử dụng và bị bắt quả tang. Qua kiểm tra, trên đầu nỏ thuỷ tinh vẫn còn một ít chất rắn màu trắng mà P, T, Q chưa sử dụng hết. (Bút lục 32-33; 49-53 ; 56-57 ; 63-64 ; 69 ; 67-69)
Quá trình Cơ quan điều tra giải quyết vụ án, N.H.T đã bỏ trốn. Để đảm bảo thời hạn tố tụng, ngày 22/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam đã Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của N.H.T để tiếp tục điều tra xử lý sau, đồng thời kết thúc điều tra đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của N.H.T và H.M.Q.
Ngày 14/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã xử phạt N.H.T 12 tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại bản án số 54/2021/HSST. Riêng đối với H.M.Q (sinh 22/12/2005) là người cùng góp tiền mua ma tuý và cùng sử dụng ma tuý chung với T và P. Hành vi của Q có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên, đây là tôi phạm nghiêm trọng, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Q chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 21 ngày), do đó Q không buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm này theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS. Công an huyện Hàm Thuận Nam đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với H.M.Q về hành vi nêu trên. Do đó, không tiếp tục đề cập xử lý trong vụ án này. (Bút lục số 104a-140e)
Tang vật tạm giữ: (Bút lục số 33)
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được thu giữ tại hiện trường quả tang ngày 13/01/2021.
+ 01 gói nylong có kích thước 2cm x 2cm được hàn kín, bên trong có chất rắn màu trắng (được bóc tách từ nỏ thuỷ tinh thu giữ tại hiện trường vụ án nói trên).
Chất rắn màu trắng được bóc tách từ nỏ thuỷ tinh thu giữ tại hiện trường vụ án nói trên đã được gửi đến phòng KTHS Công an tỉnh Bình thuận để giám định.
Ngày 21/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận có kết luận giám định số 58/KLGĐ-PC09 kết: mẫu được gửi đến giám định là Methamphetamine có trọng lượng 0,1460 gam. (Bút lục số 38)
Những vật chứng của vụ án gồm: bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã được thu giữ và 01 gói nylon kích thước 2cm x 2cm đã cắt lấy mẫu và 0,0596 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 58, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, đã được xử lý tại Bản án số: 54/2021/HSST Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam nên không đề cập xử lý tiếp theo.
Cáo trạng số 25/CT-VKSHTN-HS ngày 17/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố N.H.T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo N.H.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: N.H.T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 20 (hai mươi) tháng tù
Vật chứng: đã xử lý xong.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo N.H.T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của những người làm chứng khác, do đó đã đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 13/01/2021, tại vựa thanh long Kiên Sinh thuộc thôn Dân Bình, xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, bị cáo N.H.T cùng với H.M.Q và T.M.P đã bị bắt quả tang đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng có trọng lượng 0.1460 gam, là Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo N.H.T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về mức hình phạt:
Bị cáo N.H.T là một công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên vì nhu cầu thỏa mãn cho bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với H.M.Q và T.M.P: hành vi đã được xử lý xong nên không đề cập.
Về vật chứng: đã xử lý xong
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo N.H.T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt N.H.T: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2022
[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo N.H.T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND Hàm Thuận Nam; - CCTHADS Hàm Thuận Nam; - Công an Hàm Thuận Nam; - Người TGTT; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Vũ |