vanban.org

Bản án 38/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Thị B 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 03/10/2022 Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Thị B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 38/2022/HSST.
Ngày: 28/11/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lò Thị Ánh Ngọc;

2. Ông Nông Trung Kiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST- HS ngày 16/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST- HS ngày 17/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Thị B, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1982, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản N H, xã P L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn Phanh (Đã chết) và bà: Quàng Thị Dọn (Đã chết); chung sống như vợ chồng với Trần Văn Hải, sinh năm 1966 từ năm 2004 đến năm 2005; con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2005; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích; chưa bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 03/10/2022 "có mặt".

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Phượng - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên."Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực nương ngô thuộc Bản N H, xã P L, huyện Đ B với mục đích là mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp và mua được 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine với giá tiền là 100.000đ của một người phụ nữ tên là Súa khoảng 40 tuổi không biết địa chỉ. Sau đó bị cáo cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 10 giờ 45 phút cùng ngày khi bị cáo đang cầm số ma túy để sử dụng thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an huyện Đ B kiểm tra thì bị cáo đã thả số ma túy xuống sàn nhà, nhưng bị tổ công tác phát hiện và giữ bị cáo lại thu giữ 02 gói ma túy đều được gói bằng ni lon màu xanh, miệng các gói được xoắn lại.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 03/10/2022 đã xác định:

- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,38 gam;

- Số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 1,1 gam;

Tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 1,48 gam

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 1315/KL-KTHS ngày 09/10/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Thị B gửi giám định là Heroine;

- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Quàng Thị B gửi giám định là Methamphetamine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 249/CT-VKSĐB ngày 15/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Quàng Thị B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo được miễn án phí HSST.

- Ý kiến Luật sư: Việc truy tố bị cáo về tội danh và lời luận tội là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất do VKS đề nghị.

- Ý kiến VKS: Vẫn giữ nguyên quan điểm, mức án VKS đề nghị là phù hợp đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Ngày 03/10/2022 bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng, khi bị cáo đang ở nhà thì bị bắt quả tang 01 gói Heroine có khối lượng 0,38 gam và 12 viên Methamphetamine có khối lượng 1,1 gam. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qủa tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Sau khi nghe đề nghị trong phần luận tội của VKS và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt đối với bị cáo thì HĐXX xét thấy với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 1,48 gam thì mức hình phạt đối với bị cáo chưa phù hợp nên HĐXX nhất trí giảm mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp hơn với nhân thân, hành vi và khối lượng ma túy tàng trữ của bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo mua của người phụ nữ khoảng 40 tuổi, tên là Súa, do bị cáo không biết địa chỉ nên CQĐT không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ được.

. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

. Vật chứng: 0,38 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,28 gam); 1,1 gam Methamphetamine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,84 gam) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều

38/BLHS.

1.Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Thị B 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 03/10/2022

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

4. Về vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,38 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,28 gam); 1,1 gam Methamphetamine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,84 gam).

(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 16/11/2022).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND T Điện Biên;

- VKSND H Điện Biên;

- VKS tỉnh.

- CQĐTCA H Điện Biên;

- Bộ phận HNVCAH Điện Biên;

- Sở TP Điện Biên;

- THA HS tỉnh ĐB;

- Nhà tạm giữ CAHĐB;

- Chi cục THADSHĐB;

Lường Văn Lương

- Bị cáo;

- Người bào chữa;

- Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Thị Ánh Ngọc

Lường Văn Lương

Nông Trung Kiên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND T Điện Biên;

- VKSND H Điện Biên;

- VKS tỉnh.

- CQĐTCA H Điện Biên;

- Bộ phận HNVCAH Điện Biên;

- Sở TP Điện Biên;

- THA HS tỉnh ĐB;

- Nhà tạm giữ CAHĐB;

Lường Văn Lương

- Chi cục THADSHĐB;

- Bị cáo;

- Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Văn Tám

Lường Văn Lương

Nông Trung Kiên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND T Điện Biên;

- VKSND H Điện Biên;

- VKS tỉnh.

- CQĐTCA H Điện Biên;

- Bộ phận HNVCAH Điện Biên;

- Sở TP Điện Biên;

- THA HS tỉnh ĐB;

- Nhà tạm giữ CAHĐB;

- Chi cục THADSHĐB;

Lường Văn Lương

- Bị cáo;

- Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Văn Tám

Lường Văn Lương

Nông Trung Kiên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ