- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày 23 tháng 11 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TS, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quý Anh và bà Nguyễn Thị Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2022/TLST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST – HS, ngày 11 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Đ - sinh năm 1993; ĐKHKTT: Khu phố Trang Liệt, phường TH, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Vũ Thị O, sinh năm 1964; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Đào Thúy H, sinh năm 1995 (đã ly hôn), Con: Bị cáo 01 con sinh năm 2012. Tiền án: Tại Bản án số: 22/2020/HSST ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thành phố TS) xét xử Nguyễn Đức Đ 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Ngày 17/11/2021 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại Bản án số: 193/2013/HSST ngày 27/09/2013, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử Nguyễn Đức Đ 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 136 BLHS. Ngày 21/02/2016 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 06/08/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 06/08/2022 tại khu phố Tân Lập, phường ĐB, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường ĐB, thành phố TS, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1993, HKTT: khu phố Trang Liệt, phường TH, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tàng trữ trái phép ma túy Heroine. Ngay sau đó lực lượng Công an phường đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và bàn giao đối tượng cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: Công an đã tiến hành thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ 08 gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì thư theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/08/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số 304 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định đối với 08 gói ma túy Heroine thu giữ của Nguyễn Đức Đ.
Tại bản kết luận giám định số 1267/KL-KTHS ngày 08/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận.“Chất bột màu trắng bên trong 08 gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy mầu trắng có dòng kẻ có khối lượng là 0,2342 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine”.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Đức Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 189/CT -VKSTS ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Đức Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức Đ khai nhận: Bản thân Đ nghiện ma túy từ đầu năm 2012 đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 06/08/2022, Đ một mình đi bộ đến khu phố Chùa Dận, phường ĐB, thành phố TS mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây Đ gặp 01 nam thanh niên không quen biết hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 Đ, người đàn ông này đưa cho Đ 08 gói nhỏ có đặc điểm được bọc ngoài bằng lớp giấy mầu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột mầu trắng. Đ cầm số ma túy trên bỏ đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ đi bộ đến đoạn đường thuộc khu phố Tân Lập, phường ĐB thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội Đ xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Đức Đ từ 20 đến 23 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/08/2022.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định (kèm theo Kết luận giám định số số 1267/KL-KTHS ngày 08/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh).
Bị cáo nhận tội, Đ ý và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố TS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức Đ tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 06/08/2022 tại khu phố Tân Lập, phường ĐB, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường ĐB, thành phố TS đã bắt quả tang Nguyễn Đức Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,2342 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân; lực lượng Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định pháp luật.
Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, vì phục vụ ham muốn của bản thân, bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố TS. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tiền án tại Bản án số: 22/2020/HSST ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thành phố TS) xét xử Nguyễn Đức Đ 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Ngày 17/11/2021 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS và bị cáo có nhân thân rất xấu tại Bản án số: 193/2013/HSST ngày 27/09/2013, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử Nguyễn Đức Đ 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 136 BLHS. Ngày 21/02/2016 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, Hội Đ xét xử xét thấy, cần phải xét xử bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội Đ xét xử xét thấy, bị cáo mua ma tuý về mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời, bị cáo sau khi bị bắt giữ không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập gì, tài sản riêng gì, gia đình kinh tế khó khăn, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định (kèm theo Kết luận giám định số số 1267/KL-KTHS ngày 08/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh).
Liên quan trong vụ án này: Liên quan trong vụ án này có người thanh niên đã bán ma túy cho Đ. Quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Đức Đ 22 (Hai hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 06/08/2022. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định (kèm theo Kết luận giám định số số 1267/KL-KTHS ngày 08/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức Đ phải chịu 200.000 Đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA,THADS thành phố TS; - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Phương |