- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày 03-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng
Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2021/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2021/QĐXX-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021, Thông báo hoãn phiên tòa số 01/TB-TA ngày 13-01-2022, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 16-02-2022 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau, chỗ ở: Khu phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu T (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09-6-2021, chuyển tạm giam ngày 15-6-2021 (có mặt)
Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ X, ấp Y, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroin. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên trưa ngày 09/6/2021, T đi đến khu vực thành phố Vũng Tàu gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 02 (hai) gói Heroin với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, T đem ma túy về nhà trọ của mình tại khu phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, T đem 02 gói ma túy trên đến phòng trọ của chị Hồ Thị T tại tổ X, ấp Y, xã T, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để chơi. Khi T đang cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay phải ở trong phòng trọ của chị T thì bị Phòng PC 04 - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 02 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen và số tiền 100.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 312/KLGĐ – PC09 – MT ngày 17/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 02 (hai) gói nylon hàn kín được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu Công an xã Tóc Tiên – Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh BR – VT, cùng các chữ ký ghi họ tên: Bùi Thái T, Nguyễn Quốc T, Phạm Văn L, Trần Văn T, Nguyễn Thị D, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,6947 gam, là ma túy, loại Heroine.
Việc xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong chất ma tuý đề số: 312 ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gửi trả sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen và số tiền 100.000 đồng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi, đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với Trần Văn T đồng thời đề nghị:
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chât ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn T.
Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và chiếc điện thoại Samsung màu xanh đen đã hư hỏng không sử dụng được nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hàn vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Lời khai của bị cáo: Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng. Bị cáo không có ý bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
+
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định được:
Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 09/6/2021 tại tổ X, ấp Y, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,6947 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Bị cáo là công dân đã trưởng thành và hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người. Tuy nhiên để phục vụ nhu cầu bản thân bị cáo đã bất chấp đến các quy định của pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tù thật nghiêm khắc để nhằm răn đe, giáo dục đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người nghiện không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại Samsung màu xanh đen và số tiền 100.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí:
Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-6-2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Trần Văn T.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong đề vụ số 312 ngày 17-6-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn T một điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen, số Imel 1: 352812/10/485758/8 số Imel 2: 352813/10/485758/6, đã cũ, không hoạt động và số tiền 100.000 đồng.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18/BB-CCTHADS ngày 10-11-2021, biên lai thu tiền số 0001511 ngày 10-11-2021, của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4.Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - CCTHADS thị xã Phú Mỹ; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - TAND tỉnh BR-VT’ - VKSND tỉnh BR-VT; - PV06 Công an tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thanh Trà |