- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày: 23-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bá Ngọc;
2. Ông Lê Thanh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:
Vũ Trọng T, sinh ngày 13/3/1991, tại huyện YM, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm A, xã KT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Vũ Trọng M và bà Dương Thị L; có vợ và 2 con; tiền án: bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, xử phạt 22.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 28/4/2020, chưa chấp hành xong; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 20/02/2022 đến ngày 25/02/2022 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Phạm Thị Hoài Th, sinh năm 1989, trú tại Xóm A, xã KT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Người làm chứng: anh Nguyễn Công Th (vắng mặt).
- Người chứng kiến: anh Đinh Mạnh C (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2022 tổ công tác Công an phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp trong khi tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn, phát hiện Vũ Trọng T đang đứng cạnh chiếc xe mô tô BKS: 35B2 – 76088 dựng trước cổng Nhà văn hóa tổ dân phố Đồi Cao 2, phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp, thấy có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân và hỏi T đang cầm vật gì trên tay phải, T khai nhận đang cầm túi nilon mầu trắng, bên trong có 05 viên ma túy hồng phiến vừa mua được của một người phụ nữ tên L với giá 500.000 đồng, mục đích mang theo sử dụng cho bản thân và tự giác giao nộp. Tổ công tác tiến hành kiểm tra túi nilon mầu trắng, có viền đỏ ở một đầu, kích thước (6 x 9)cm, bên trong túi nilon mầu trắng có 05 viên nén mầu đỏ, có cùng đường kính 0,5cm, một mặt mỗi viên đều có chữ WY. Tổ công tác tiến hành niêm phong túi nilon chứa 05 viên nén hình tròn mầu đỏ T vừa giao nộp vào phong bì giấy dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của T và những người tham gia. Ngoài ra T tự lấy ở túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 mầu xám, trong có lắp 01 sim Viettel có số thuê bao 0352.690.872 và số tiền 100.000 đồng giao nộp. Tổ công tác niêm phong chiếc điện thoại T giao nộp theo đúng quy định, đồng thời tiến hành kiểm tra chiếc xe môtô BKS: 35B2 – 76088 không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản gì. Tổ công tác đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Yên Bình lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã lấy mẫu chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Vũ Trọng T làm mẫu vật gửi đi giám định (kí hiệu M). Tại bản kết luận giám định số 203/KLGĐ – PC09 - MT ngày 25/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu năm viên nén hình tròn mầu đỏ, trên mặt mỗi viên đều có chữ “WY” gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,4949 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vũ Trọng T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 20/02/2022.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn lại sau giám định; 01 vỏ túi nilon, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu và 01 vỏ phong bì giấy đã cắt rách một đầu dùng niêm phong điện thoại thu giữ của Vũ Trọng T. Trả lại cho Vũ Trọng T số tiền 100.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi cất giữ trái phép 05 viên ma túy loại Methamphetamine để sử dụng với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị khởi tố, điều tra là đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng T đã khai nhận khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2022, tại khu vực cổng Nhà văn hóa tổ dân phố Đồi Cao 2, phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp, Vũ Trọng T đã mang theo người 05 viên hồng phiến là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,4949 gam để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Bị cáo cho rằng bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thị Hoài Th trong quá trình điều tra đã khai báo chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, mầu sơn đỏ, BKS: 35B2 – 76088 là tài sản của chị Th, chị Th cho T mượn xe để đi lại, không biết T sử dụng xe đi mua ma túy. Ngày 15 tháng 4 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại chiếc xe cho chị Th, chị Th không có yêu cầu gì về việc giải quyết vụ án.
Người làm chứng, người chứng kiến trong quá trình điều tra đều khai báo: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2022, tại cổng Nhà văn hóa tổ dân phố Đồi Cao 2, phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã nhìn thấy bị cáo cầm túi nilon mầu trắng trên tay thì bị công an phát hiện, kiểm tra trong túi nilon có chứa 05 viên ma túy hồng phiến, bị cáo đã khai báo là ma túy đem theo để sử dụng cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2022, tại cổng nhà văn hóa tổ dân phố Đồi Cao 2, phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp, bị cáo Vũ Trọng T có hành vi mang theo người 0,4949 gam, là ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi mang chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Vũ Trọng T phạm tội khi đang chấp hành bản án số 10/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình là thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Vũ Trọng T đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội khi đang có tiền án về tội “Đánh bạc”.
Xét tính chất hành vi phạm tội, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, mầu sơn đỏ, BKS: 35B2 – 76088 là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị Hoài Th, chị Th cho bị cáo mượn để đi lại nhưng không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Do vậy, cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho chị Th là đúng pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 6, màu xám, bên trong lắp sim viettel olà tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.
Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành; 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (6 x 9)cm cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu và 01 vỏ phong bì giấy đã cắt rách một đầu dùng niêm phong điện thoại thu giữ của Vũ Trọng T là vật không còn giá trị. Do vậy, căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng đã tạm giữ của Vũ Trọng T không liên quan đến hành vi phạm tội, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Vũ Trọng T khai ngày 20/02/2022, bị cáo mua của một người phụ nữ tên L ở xã YP, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với người tên là L như bị cáo đã khai báo nhưng chưa đủ cơ sở để xử lý nên đã tách hồ sơ để tiếp tục xác minh là đúng pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Vũ Trọng T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Vũ Trọng T 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/02/2022.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho và vật chứng bên trong gồm: 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (6x9) cm; 01 (một) vỏ phong bì giấy đã cắt rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu.
- 01 (một) vỏ phong bì giấy đã xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại thu giữ của Vũ Trọng T.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 203/KL-KTHS-MT. Vũ Trọng T , sinh năm: 1991, Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/02/2022 tại phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp , tỉnh Ninh Bình và vật chứng bên trong gồm: M = 0,4431 gam là ma túy loại Methamphetamine: toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/05/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
3.2. Trả lại cho bị cáo Vũ Trọng T số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
(Hiện đang quản lý tại Tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo ủy nhiệm chi lập ngày 16/05/2022 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
4. Về án phí: bị cáo Vũ Trọng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- TADN tỉnh Ninh Bình;
| - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Quách Thành Trung |