vanban.org

Bản án 38/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C phạm tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Nguyễn Anh D cho Ủy ban nhân dân xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án tr…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HS-ST
Ngày 24 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Bằng.

Bà Đỗ Thị Kim Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Anh D, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1988, tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Nguyễn Văn H và con bà Đường Thị C; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 03/10/2016, bị Công an thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 04/10/2016, D đã nộp phạt số tiền trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2022, đến ngày 12/01/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương nơi cư trú (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Cao C, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1982 tại huyện Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ xx, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Nguyễn Hồng H và con bà Nguyễn Thị C; có vợ và 02con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2022, đến ngày 12/01/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh D có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Cao C. D biết C nhận bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu mua. C và D thỏa thuận với nhau: Mỗi điểm lô C bản cho D với giá là 22.000đ/01 điểm, tiền đề C bán cho D theo tỷ lệ 0,82%, nghĩa là D đánh 100.000đ thì chi phải thanh toán cho C 82.000d. Căn cứ để tính kết quả thắng thua với người mua số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày, cụ thể: Nếu các số lô D mua của C trùng với hai số cuối của 08 giải thưởng thì D thắng và C phải trả thưởng cho D theo tỷ lệ 01 điểm lô =80.000đ, nếu các số đề D mua của C trùng với hai số cuối giải đặc biệt thì D thắng và C phải trả cho D theo tỷ lệ 1 x 70. Khoảng 17 giờ 17 phút ngày 23/12/2019, D sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 của D bên trong lắp sim số 0973207xxx nhắn tin đến số điện thoại 0974687xxx được lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của C để mua các số lô, số đề, cụ thể: D nhắn tin cho C có nội dung “đánh hộ em lô 78, 87, 73, 37, 77, 88 mc 100đ, đề 77, 88, 37, 73 mc 300k”. Sau khi nhận được tin nhắn của D, C đã nhắn tin lại là “OK em” tức là C nhất trí việc mua bán số lô, số đề cho D. Như vậy, ngày 23/12/2019, D mua của C 06 số lô gồm: 78, 87, 73, 37, 77, 88 mỗi số = 100 điểm, tổng = 600 điểm x 22,000đ/01 điểm = 13.200.000đ, 04 số đề gồm: 77, 88, 37, 73 mỗi số = 300.000đ, tổng = 1.200.000đ. C chỉ lấy của D theo tỷ lệ 0,82% tức là đánh 100.000đ chỉ mất 82.000đ nên 04 số đề D chỉ phải trả C 984.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 23/21/2019, đối chiếu thì D không trúng số lô, số đề nào. Do đó, tổng số tiền D và C đánh bạc với nhau ngày 23/12/2019 là 14.184.000đ, số tiền này D đã thanh toán cho C xong.

Ngày 06/01/2022 hành vi của các bị cáo bị phát hiện. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc làm việc với Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc xác minh kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 23/12/2019 xác định: 02 số cuối của 08 giải không có các số 78,87,73,37,77,88 và 02 số cuối của giải đặc biệt không có số 77,88,37,73. Kết quả này phù hợp với kết quả mà D và C đã xác định với nhau.

Ngày 09/01/2022 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Đánh bạc” xảy ra ngày 23/12/2019, phát hiện ngày 06/01/2022 tại xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 12/01/2022 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Cao C và Nguyễn Anh D vê tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tạm giữ của Nguyễn Anh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, của Nguyễn Cao C 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3.

Ngày 14/3/2022, Nguyễn Cao C tự nguyện giao nộp tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 14.184.000đ là tiền mà D đã trả cho C về việc bán số lô, số đề.

Kết quả giám định đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- Ngày 25/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định số 46 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao là 0973.207.xxx của Nguyễn Anh D, yêu cầu trích xuất toàn bộ dữ liệu có trong mẫu gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 460/KLGD ngày 21/02/2022 của Phòng KTHS- Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với chiếc điện thoại Iphone 12 của Nguyễn Anh D kết luận:

“Trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân liệu theo yêu cầu giám định thu được kết quả:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 06 hành trình, 75 tập tin ảnh, 34 tin nhắn tức thì, 67 tin nhắn trò chuyện, 09 vị trí, 199 dòng thời gian.

- Sim không có dữ liệu.

Toàn bộ dữ liệu nêu trên được sao in vào đĩa DVD"

Nghiên cứu kết quả giám định thấy có tin nhắn thể hiện việc đánh lô, đề của D và C như đã nêu trên.

- Ngày 25/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định số 47 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao là 0974687xxx của Nguyễn Cao C, yêu cầu trích xuất toàn bộ dữ liệu có trong mẫu gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 462/KLGĐ ngày 21/02/2022 của Phòng KTHS- Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3 của Nguyễn Cao C đã kết luận:

“Trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích dữ liệu không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu giám định”

Về xác minh số điện thoại:

- Đối với số điện thoại 0974.687.373 chủ thuê bao là Nguyễn Cao C.

- Đối với số diện thoại 0973.207.xxx chủ thuê bao là Vũ Thị D1, sinh năm 1990 trú tại tỉnh Vĩnh Phúc. Chị D1 là vợ của bị cáo Nguyễn Anh D, khi D đăng số thuê bao này để sử dụng thì D dùng số chứng minh thư nhân dân của chị D1.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS-P2 ngày 31 tháng 3 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C đều phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh D từ 12.000.000đ đến 15.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 14.184.000đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Trả lại cho D điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và C 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Ngoài ra, đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các kết luận giám định, số tiền thu được của các bị cáo do phạm tội mà có, tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 17 phút, ngày 23/12/2019, Nguyễn Anh D nhắn tin từ số điện thoại 0973.207008 đến số điện thoại 0974.687.373 của Nguyễn Cao C để đánh bạc với hình thức mua số lô, số đề, cụ thể: D mua 06 số lô bằng 13.200.000 đồng, 04 số đề bằng 1.200.000 đồng, C chỉ lấy của D theo tỷ lệ 0,82% tức là đánh 100.000đ chỉ mất 82.000 đồng nên 04 số đề D chỉ phải trả C 984.000 đồng. Tổng số tiền cả lô và đề là 14.184.000 đồng. Sau khi có kết quả sổ số miền Bắc mở thưởng ngày 23/12/2019, thì D không trúng số lô, số đề nào. Như vậy, tổng số tiền D và C đánh bạc với nhau ngày 23/12/2019 là 14.184.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Cao C, Nguyễn Anh D đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm của mình như nêu trên. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù được thực hiện cách đây hơn 02 năm nhưng đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi “Đánh bạc” được coi là tệ nạn xã hội cần lên án, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như ma túy, trộm cắp, cướp giật…Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xem xét vị trí, vai trò; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó các bị cáo đều được hưởng hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Đối với bị cáo Nguyễn Anh D hành vi phạm tội là bột phát nhưng trước đó vào năm 2016 bị cáo đã bị Công an thành phố Vĩnh Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đ, nay bị cáo đã nộp phạt xong số tiền trên. Hành vi của bị cáo từ khi thực hiện đến ngày bị phát hiện đã là hơn 02 năm tức là từ ngày 23/12/2019 đến ngày 06/01/2022 mới bị phát hiện do truy xét của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra rất ăn năn hối cải về hành vi của mình. Kể từ năm 2019 đến nay bị cáo chỉ duy nhất 01 lần phạm tội không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác được chính quyền địa phương xác nhận là người chấp hành tốt các quy định tại địa phương. Với các tình tiết như trên bị cáo đáng được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Cao C hành vi phạm tội từ khi thực hiện đến ngày bị phát hiện cũng là hơn 02 năm tức là từ ngày 23/12/2019 đến ngày 06/01/2022 bị phát hiện do truy xét của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt và kể từ đó đến nay duy nhất chỉ có 01 lần vi phạm pháp luật, không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác. Việc nhận tiền để ghi số lô, số đề chỉ là nhận hộ người khác bị cáo không phải là chủ đề. Sau khi phạm tội bị cáo luôn ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật và địa phương, tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, các hoạt động thiện nguyện. Cụ thể như các hoạt động: Ủng hộ Tết vì người nghèo, ủng hộ dịp Trung thu cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ đồng bào bão lụt… Trong thời điểm dịch bệnh Covid bùng phát mạnh bị cáo đã tự nguyện ủng hộ chia sẻ khó khăn với các doanh nghiệp, các công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp Bình Xuyên như: Công ty Vinatop, Công ty Siwan, Công ty Duy Khanh… gồm găng tay, khẩu trang, các thiết bị y tế, nước khử khuẩn, nước xúc miệng… Bị cáo còn nhận hỗ trợ thường xuyên cho cháu Bảo An là trẻ mồ côi đang sống với ông bà nội già yếu ở phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên mỗi tháng 500.000đ. Các hoạt động trên đều được Hội chữ thập đỏ thành phố Phúc Yên xác nhận. Ngoài ra khi bị phát hiện về hành vi phạm tội của mình ngày 14/3/2022 bị cáo đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 14.184.000đ để khắc phục hậu quả. Như vậy ngoài việc được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo Nguyễn Anh D hiện có thu nhập, có công ăn việc làm do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Mức phạt 12.000.000đ là phù hợp.

[4] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với số tiền 14.184.000đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo C đã giao nộp ngày 14/3/2022 cần được chuyển vào ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 lắp sim số 0973.207.xxx của Nguyễn Anh D mà D đã sử dụng để nhắn tin đánh bạc với Nguyễn Cao C. Quá trình điều tra, D khai nhận: Chiếc điện thoại Iphone 8 này D mua từ năm 2018 nhưng không nhớ mua của ai, ở đâu. Ngày 23/12/2019, D đã sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với C như đã nêu trên; đến khoảng tháng 6/2020 thì chiếc điện thoại này bị hỏng nên D đã bỏ đi không biết hiện để đâu. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc không thu giữ được chiếc diện thoại này.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Anh D, thì D khai nhận: Sau khi chiếc điện thoại Iphone 8 bị hỏng, khoảng tháng 10/2020 D mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro này và vẫn lắp sim cũ là số 0973.207.xxx để sử dụng (khi mua chiếc điện thoại này có Hóa đơn bán hàng của cửa hàng N, địa chỉ tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc), do D sử dụng chung tài khoản icloud, do vậy các tin nhắn, hình ảnh được lưu giữ trên tài khoản icloud được sao lưu và sẽ xuất hiện tại mục tin nhắn của diện thoại Iphone 12 Pro mới mua nên khi D sao lưu tài khoản thì tin nhắn đánh bạc với C bằng hình thức mua các số lô, số đề trên vẫn còn được lưu giữ. Đối với mẫu diện thoại Iphone 12 Pro được bán tại thị trường Việt Nam từ tháng 9 năm 2020. Do đó, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro trên không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho D, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, lắp sim số 0974.687.373 của Nguyễn Cao C mà C sử dụng để đánh bạc với Nguyễn Anh D, trong quá trình điều tra C khai nhận: C mua chiếc diện thoại này từ lâu, sau đó sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc cá nhân và sử dụng vào việc đánh bạc với D. C sử dụng đến khoảng tháng 10/2021 thì điện thoại này bị hỏng nên C đã bỏ đi, hiện không biết ở đâu. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc không thu giữ được chiếc điện thoại này.

Đối với chiếc điện thoại SamSung Galaxy Z Fold 3 thu giữ của Nguyễn Cao C, C khai nhận: Sau khi chiếc điện thoại Iphone 11 bị hỏng không sử dụng được, đến tháng 11/2021 C mua chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3 để sử dụng (thể hiện tại hóa đơn bán hàng số: 008xxxx ngày 18/11/2021 của đơn vị bán hàng là Chi nhánh Công ty TNHH Nhà nước MTV TM và XNK Viettel tại Vĩnh Phúc). Kết quả giám định chiếc điện thoại trên không có dữ liệu gì liên quan đến hành vi đánh bạc của C và D. Đối với mẫu điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold 3 được bán tại thị trường Việt Nam từ tháng 9 năm 2020. Do đó, có căn cứ xác định chiếc điện thoại SamSung Galaxy Z Fold 3 trên không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho C nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Anh D cho Ủy ban nhân dân xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt Nguyễn Cao C 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Anh D số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 14.184.000đ (Mười bốn triệu một trăm tám mươi tư nghìn đồng) (Bị cáo Nguyễn Cao C đã nộp theo Biên bản giao nhận lập ngày 14/3/2022)

-Trả lại bị cáo Nguyễn Anh D chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và trả cho bị cáo Nguyễn Cao C chiếc điện thoại SamSung Galaxy Z Fold 3.

(Toàn bộ vật chứng nên trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Anh D và Nguyễn Cao C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ