- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồng - đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Xuân H phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày: 18/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cương
2. Bà Nguyễn Thị Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lệ Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Thành Luân, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2022/TLST-HS ngày 30/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 06/4/2022 đối với bị cáo:
LÊ THỊ XUÂN H, sinh năm 1974; HKTT và chỗ ở: phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Lê X và bà Nguyễn Y; Chồng là 7; có 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007; Danh chỉ bản số 119 ngày 16/01/2022 lập tại Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và trích lục tiền án, tiền sự thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 06/01/2022 đến ngày 11/01/2022, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1979; Địa chỉ: huyện Mỹ Đức, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17h50’ ngày 06/01/2022, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tổng hợp Công an quận Long Biên Nội phát hiện bắt quả tang Lê Thị Xuân H đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán các số đề cho anh Nguyễn Văn Y. Vật chứng thu giữ tại chỗ gồm: Số tiền 8.399.000 đồng (trong đó có 140.000đồng của Nguyễn Văn Y); 06 (sáu) tờ tích kê ghi số lô, số đề được in bằng giấy than ngày 06/01/2022; 01 điện thoại di động Iphone X kèm sim, 01 điện thoại di động Iphone 6 kèm sim của Lê Thị Xuân H; 01 (một) tờ tích kê ghi số đề ngày 06/01/2022 của Nguyễn Văn Y.
Quá trình điều tra, đối tượng khai nhận: Do bản thân không có công việc làm ổn định, muốn kiếm thêm thu nhập nên hàng ngày Lê Thị Xuân H trực tiếp bán các số lô, số đề cho khách và thực hiện thanh toán cho khách nếu khách trúng thưởng, cách thức đánh bạc như sau: đối với số đề, số lô xiên khách mua bao nhiêu tiền thì Lê Thị Xuân H thu bấy nhiêu. Đối với lô thường nếu khách mua 1 điểm lô thì Lê Thị Xuân H thu của khách số tiền tương ứng là 23.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì sẽ đối chiếu số đề với 02 số cuối của giải đặc biệt, số đề ba càng sẽ đối chiếu với 03 số cuối của giải đặc biệt, số lô xiên và số lô sẽ đối chiếu với 02 số cuối của tất cả các giải. Nếu khách trúng đề thì Hồng phải trả cho khách số tiền gấp 80 lần, số đề 03 càng Lê Hồng phải trả cho khách gấp 420 lần số tiền khách đã bỏ ra để mua. Nếu khách trúng lô thì Hồng phải trả cho khách số tiền 80.000đ/01điểm lô. Nếu khách trúng lô xiên 2 thì Hồng phải trả cho khách 10 lần số tiền mua, xiên 3 gấp 40 lần, xiên 4 gấp 100 lần. Lê Thị Xuân H khai là người trực tiếp thu tiền của khách mua số lô, số đề, tự chi trả số tiền thắng thua. Lê Thị Xuân H không chuyển bảng lô đề cho ai khác.
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 06/01/2022, Lê Thị Xuân H đang ngồi bán số lô, số đề cho khách tại nhà phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội thì có Nguyễn Văn Y đến mua các số đề (89,98,78,87,69,96,45,54)x10.000 đồng, (65,51,77,88)x5000 đồng, số đề ba càng (225,223,905,001)x5000 đồng, (568,981)x10.000 đồng. Tổng cộng số tiền là: 140.000 đồng. Hồng đã đồng ý và viết các số đề mà Hải mua ra 01 “tích kê” có in giấy than, sau đó đưa tờ bản chính cho Hải còn giữ lại tờ in bằng giấy than giữ lại để đối chiếu kết quả. Khi Nguyễn Văn Y thanh toán số tiền 140.000 đồng cho Lê Thị Xuân H và nhận tờ “tích kê” thì bị cơ quan công an bắt quả tang về hành vi đánh bạc.
Ngoài bán cho Hải thì cùng trong ngày 06/01/2022, Hồng còn trực tiếp bán số lô, số đề cho khoảng 05 khách “qua đường” thể hiện tại 05 tờ “tích kê’’.
Tổng số tiền ghi lô, đề của Lê Thị Xuân H trong ngày 06/01/2022 là 10.970.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
Đối với Nguyễn Văn Y khai nhận: Khoảng 17h50’ ngày 06/01/2022, Hải đến số 158 Phú Viên mua số lô, đề của Lê Thị Xuân H. Hải mua các số đề (89,98,78,87,69,96,45,54) x 10.000 đồng, (65,51,77,88) x 5000đồng, số đề ba càng (225,223,905,001) x 5000đồng, (568,981)x10.000đ. Tổng cộng số tiền là: 140.000 đồng. Khi Hải trả tiền và nhận tờ tích kê của Hồng thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 810/KLGĐ-P9-Đ3 ngày 24/1/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A6) với chữ viết, chữ số đứng tên Lê Thị Xuân H trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết ra; Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định (ký hiệu A7) với chữ viết, chữ số đứng tên Nguyễn Văn Y trên các mẫu so sánh (ký hiệu M4, M5) là chữ do cùng một người viết ra.
Quá trình điều tra, Lê Thị Xuân H tự nguyện giao nộp số tiền 2.571.000 đồng (hai triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) có được từ việc đánh bạc ngày 06/01/2022.
Đối với hành vi mua số đề ngày 06/01/2022 của anh Nguyễn Văn Y với số tiền là 140.000 đồng. Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý hành chính.
Đối với số khách khác mua số lô, đề của Lê Thị Xuân H ngày 06/01/2022 do không biết nhân thân lý lịch nên không có căn cứ để xử lý
Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSLB ngày 23/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Lê Thị Xuân H về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
1) Bị cáo Lê Thị Xuân H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
2) Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 (tự nguyện giao nộp tiền đánh bạc) Điều 51, Điều 65 BLHS. Đề nghị xử phạt: bị cáo Lê Thị Xuân H từ 10 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 20 đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone X và 01 điện thoại di động Iphone 6 kèm sim đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội (nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án); tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 10.970.000 đồng; vật chứng là tích kê ghi số lô, số đề tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
3) Tại lời nói sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Y có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Y.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: ngày 06/01/2022, tại số nhà 158 phố Phú Viên, thuộc địa bàn phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Lê Thị Xuân H đã bán số lô, số đề cho 06 đối tượng (bao gồm cả anh Nguyễn Văn Y) với tổng số tiền là 10.970.000 đồng bằng phương thức ghi trực tiếp.
Bị cáo bị phát hiện bắt giữ khi chưa có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng trong ngày nên số tiền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Thị Xuân H là 10.970.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổng số người tham gia đánh bạc bao gồm cả bị cáo H là 07 người. Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị Xuân H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố đối với bị cáo Lê Thị Xuân H là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại tới trật tự công cộng, đường lối, chính sách, pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhân thân bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo” và thừa nhận hành vi của mình, tỏ ra “ăn năn hối cải”. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i và s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tổng số tiền bị cáo thu được từ việc ghi số lô, số đề trong ngày 06/01/2022 là 10.970.000 đồng nhưng bị cáo đã sử dụng chi tiêu một phần nên khi bắt quả tang cơ quan Công an chỉ thu giữ tại chỗ được 8.399.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo đã chủ động giao nộp số tiền 2.571.000 đồng là vật chứng vụ án để sung vào ngân sách nhà nước. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt là phù hợp.
Xét nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn và hiện đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.970.000 đồng thu giữ của bị cáo, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Trả lại cho bị cáo số tiền 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng (kèm sim) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng (kèm sim) vì không phải là vật chứng của vụ án, theo Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tạm giữ lại 02 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án: Luật Thi hành án Dân sự hiện hành (các Điều 47 và 128) quy định cụ thể về thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù và trình tự thủ tục, thứ tự ưu tiên khi trả tài sản thi hành án. Do vậy, không cần thiết phải tuyên trong bản án về việc tạm giữ tài sản của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Đối với vật chứng là 06 tờ tích kê ghi số lô, số đề được in bằng giấy than thu giữ của Lê Thị Xuân H và 01 (một) tờ tích kê ghi số đề thu giữ của anh Nguyễn Văn Y là tài liệu, chứng cứ đã được đưa vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm b Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106, các Điều 136, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Xuân H phạm tội “Đánh bạc”;
- Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân H 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
- Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.970.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội, được trích trừ vào số tiền 10.970.000 đồng đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên tại Kho bạc nhà nước Long Biên theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/3/2022.
+ Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 06 tờ tích-kê ghi số lô, đề thu giữ của bị cáo Lê Thị Xuân H và 01 tờ tích-kê ghi số lô, đề thu giữ của anh Nguyễn Văn Y.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng (kèm sim) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng (kèm sim), theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS-LB ngày 23/3/2022 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/3/2022.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Y có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận : - Bị cáo; Người liên quan; - VKSND quận Long Biên; - VKSNDTP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Long Biên; - Chi cục THA DS Q. Long Biên; - Bộ phận THA HS Tòa án LB; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh |