vanban.org

Bản án 38/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Mùa A S (Tên gọi khác: Mùa A S B) phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt Mùa A S (Tên gọi khác: Mùa A S B) 20 (Hai mươi) tháng tù , nhưng cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Mùa A S - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Mùa A S (Tên gọi khác: Mùa A S B) phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HS-ST
Ngày 21 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU- SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Triê ̣u Văn Quang.

- Các hội thẩm nhân dân : Ông Hà Đình Thái, bà Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tớ i – Thư ký Toà án nhân dân huyê ̣n Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 25/5/2022 theo quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số

: 39/2022/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Mùa A S (tên gọi khác: Mùa A S B), sinh năm 1981 tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La . Nơi đăng ký HKTT : Bản P, xã P, huyê ̣n Y, tỉnh Sơn La ; trình độ văn hóa: không biết chữ; nghề nghiệp: trồng trọt; dân tô ̣c: Mông; giớ i tinh: Nam;

́ tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam. Con ông: Mùa A D và bà Giàng Thị V (đều đa chế t); bị cáo có vợ : Sồng Thị D, sinh năm 1983 và có 06 con, con lớñ nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17 tháng 2 năm 2022 đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.

Đại diện là ông Lừ Văn C, sinh năm 1984 (Trưởng bản), Đi ̣a chi: Bản S,̉ xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mă ̣t tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ Á N

Theo các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên toà , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/9/2021, Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y và tổ bảo vệ rừng Bản S, xã C, huyện Y phát hiện tại khu vực rừng phòng hộ thuộc rừng cộng đồng Bản S, xã C, huyện Y quản lý và bảo vệ có 01 đám rừng bị phá trái pháp luật tại khu vực rừng phòng hộ thuộc Lô 4, Khoảnh 11, Tiểu khu 870 với diện tích khoảng 0,6ha. Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y đã báo cáo sự việc đến Hạt kiểm lâm huyện Yên Châu để phối hợp giải quyết.

Hạt kiểm lâm huyện Yên Châu và Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y mời Mùa A S- Sinh năm: 1981- Trú tại: bản Páo Của, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu đến làm việc. Mùa A S thừa nhận đã thực hiện hành vi chặt phá rừng tại khu rừng phòng hộ thuộc Lô 4, Khoảnh 11, Tiểu khu 870 thuộc rừng cộng đồng Bản S, xã C, huyện Y quản lý. Ngày 24/9/2022 Hạt kiểm lâm huyện Yên Châu đã lập biên bản, yêu cầu Mùa A S không được tiếp tục phá rừng, đốt rừng lấy đất làm nương.

Ngày 24/9/2021, Mùa A S giao nộp cho Hạt kiểm lâm huyện Yên Châu: 01 dao quắm, tổng chiều dài 108cm, cán gỗ dài 73cm, lưỡi dao dài 35cm, bản dao rộng 3,1cm, dao cũ đã qua sử dụng.

Ngày 18/10/2021, Hạt Kiểm lâm huyện Yên Châu phối hợp Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, Viện kiểm sát huyện Yên Châu, UBND xã Chiềng Pằn, Yên Châu và Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định diện tích rừng bị phá hủy bằng máy tính bảng và máy GPS Gamin 78S khoanh đo toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá xác định:

- Hiện trường xảy ra vụ hủy hoại rừng tại thuộc Lô 4, Khoảnh 11, Tiểu khu 870, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh phục hồi, loại rừng phòng hộ do Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La quản lý và bảo vệ, được UBND huyện Yên Châu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/4/2003. Diện tích rừng bị hủy hoại là 4.368,64m2.

- Kiểm đến số lâm sản bị thiệt hại xác định là các cây gỗ tạp thuộc nhóm V- VIII. Cụ thể: 82 cây gỗ tạp thuộc nhóm V đến nhóm VIII, trong đó đường kính mỗi cây là 12cm- 40cm, chiều dài mỗi cây là 4m- 15m, có tổng số lượng gỗ tròn là 29,016 m3.

Ngày 30/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu ra Quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Châu tiến hành định giá tài sản là: 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII tại thời điểm tháng 12 năm 2020.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 20/HĐĐG ngày 01/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Châu kết luận: Giá trị 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII tại thời điểm tháng 12 năm 2020 là 72.540.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Mùa A S (Mùa A S B) khai nhận: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu đất để sản xuất nên Mùa A S đã nảy sinh ý định chặt phá rừng phòng hộ tại khu rừng thuộc Bản S, xã C, huyện Y do Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y quản lý và bảo vệ để lấy đất sản xuất nông nghiệp.

Khoảng đầu tháng 12 năm 2020, Mùa A S mang theo 01 con dao quắm của gia đình và 01 chiếc máy cưa cầm tay do S mượn của Lò Văn T- Sinh năm: 1997- Trú tại: bản Cò Chịa, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu (là người quen của S) rồi đi bộ đến khu rừng phòng hộ thuộc Lô 4, Khoảnh 11, Tiểu khu 870 do Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y quản lý và bảo vệ. Đến nơi, S dùng dao quắm để chặt phát cây bụi, dây leo, thảm thực vật dưới tán cây và dùng máy cưa cầm tay để cưa đổ 82 cây gỗ tạp thuộc nhóm V- VIII, trong đó đường kính mỗi cây là 12cm- 40cm, chiều dài mỗi cây là 4m- 15m. Sau khi chặt phá rừng xong, S đem trả máy cưa cho Lò Văn T và để nguyên tại chỗ số cây gỗ đã chặt để cây tự khô lá rồi đốt để lấy đất làm nương.

Đến tháng 02 năm 2021, Mùa A S trồng ngô trên diện tích rừng bị chặt phá. Ngày 22/9/2021 việc phá rừng của Mùa A S bị Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y phát hiện, báo cáo sự việc đến Hạt kiểm lâm huyện Yên Châu lập biên bản nên Mùa A S không đốt cây rừng đã chặt phá và canh tác trên diện tích rừng đó.

Đối với chiếc máy cưa cầm tay mà Mùa A S sử dụng làm công cụ chặt phá rừng, qua điều tra xác minh chiếc máy cưa là S mượn của Lò Văn T - Sinh năm: 1997- Trú tại: bản Cò Chịa, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (là người quen của S), sau khi S chặt phá rừng xong đã mang trả cho Thắng. Tuy nhiên Lò Văn T đã chết ngày 31/9/2021 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không có căn cứ để điều tra xác minh.

Về trách nhiệm dân sự: Chủ rừng là Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y không yêu cầu Mùa A S bồi thường phần thiệt hại do không được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với diện tích rừng do S hủy hoại.

Vâ ̣t chứ ng thu giữ của vu ̣ án:

01 dao quắm, tổng chiều dài 108cm, cán gỗ dài 73cm, lưỡi dao dài 35cm, bản dao rộng 3,1cm, dao cũ đã qua sử dụng.

Từ những nội dung trên , b¶n c¸o tr¹ng sè 28/CT-VKSYC ngµy 24/5/2022, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Yªn Ch©u ®· truy tè Mùa A S (Mùa A S B) vÒ téi: “Hủy hoại rừng” theo quy ®Þnh t¹i điểm c kho¶n 1 ĐiÒu 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Châu luâ ̣n tô ̣i: Giữ nguyên quan điểm truy tố bi ̣ cáo như đa nêu trong bã

̉n cáo tra ̣ng , không thay đổi, bổ sung gi thêm. Sau khi phân tich tinh chất , mứ c đô ̣ nguy hiểm của

̀

́

́

hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo , các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

̀

- Về hình phạt : Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.

̀

- Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 dao quắm, tổng chiều dài 108cm, cán gỗ dài 73cm, lưỡi dao dài 35cm, bản dao rộng 3,1cm, dao cũ đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 72.540.000 đồng thuộc sở hữu Nhà nước, do đó căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

- Về án phí: Bị cáo Mùa A S (Mùa A S B) là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo S trình bày: Bị cáo nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên toà bi ̣ cáo khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi đa thự̃

c hiê ̣n như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát công bố tại phiên toà. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì , nhất tri vớ i kết luận giám định của cơ

́ quan chuyên môn đối với số cây bị chặt phá . Lờ i nói sau cùng bi ̣ cáo xin Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.

̀

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, xem xét thiện trí khắc phục hậu quả của bị cáo để xét xử bị cáo mức án thấp nhất, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào c¸c tµi liÖu, chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn tßa, trªn c¬ së xem xÐt ®¸nh gi¸ ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, lêi khai cña bÞ c¸o vµ nh÷ng ng êi tham gia tè tông kh¸c.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TOÀ Á N:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃ được tranh tu ̣ng ta ̣i phiên toà. Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh như sau:

[1] Về hành vi tố tu ̣ng , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tr a Công an huyê ̣n Yên Châu, Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Châu và ngườ i tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và ta ̣i phiên toà , bị cáo và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi , bổ sung thêm nô ̣i dung gi . Bị cáo hoàn toàn nhất trí

̀ vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i như quyết đi ̣nh truy tố của Viện kiểm sát

. Bị cáo khẳng đi ̣nh viê ̣c khai báo ta ̣i cơ quan điều tra và ta ̣i phiên toà ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng vớ i sự viê ̣c bi ̣ cáo đa thự̃

c hiê ̣n.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản

khám nghiệm hiện trường ngày 18/10/2021; phù hợp với vật chứng đã thu giữ ; biên bản xác đi ̣nh là rừng phòng hộ , biên bản kiểm đếm số lâm sản bị thiệt hại ; lời khai của Ban quản lý bản Sốp Sạng , xã Chiềng Pằn, lờ i khai của ngườ i làm chứ ng và các tài liê ̣u, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Từ những chứ ng cứ nêu trên , đa cõ ́ đủ căn cứ kết luâ ̣n : Khoảng đầu tháng 12 năm 2020 bị cáo Mùa A S có hành vi dùng 01 dao quắm và 01 cưa máy chặt phá rừng để lấy đất sản xuất tại khu rừng thuộc Bản S, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Khu rừng bị chặt phá là rừng phòng hộ thuộc Lô 4, Khoảnh 11, Tiểu khu 870 của Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y quản lý và bảo vệ. Diện tích rừng bị chặt phá là 4.368,64m2, làm thiệt hại 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 72.540.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đa đũ ̉ yếu tố cấu thành tội: Hủy hoại rừng theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 243 Bô ̣ luâ ̣t hinh

̀ sự, quy đi ̣nh mứ c pha ̣t tù từ 01 năm đến 5 năm.

Xét về tính chất, mứ c đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo là nguy hiểm cho xa ̃ hô ̣i, gây thiệt hại 4.368,64m2 rừng phòng hộ, làm thiệt hại 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá về lâm sản 72.540.000 đồng, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Yên Châu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm nương và mục đích kinh tế. Bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giữ vững kỷ cương của pháp luật và răn đe giáo dục ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường sinh thái và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về tinh tiết tăng nă ̣ng : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm

̀ hình sự.

Về tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự : Quá trình điều tra và tại phiên

̀

̀

toà bị cáo đa thã ̀nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế , gia đinh bi ̣ cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn , đông

̀ con, là hộ nghèo , bản thân là lao đô ̣ng chinh trong gia đình . Sau khi thực hiện

́

hành vi phá rừng bị cáo đã nhận thức được sai phạm của mình , đã tiến hành tìm cây giống trồng rừng trên phần rừng bị cáo đã hủy hoại nhằm phủ xanh và khắc phục hậu quả. Bị cáo có nơi cư trú ổn định , rõ ràng. Viê ̣c cách ly bi ̣ cáo ra khỏi đờ i sống xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian là không cần thiết mà cho bi ̣ cáo được cải ta ̣o ta ̣i đi ̣a phương, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà ăn năn , hối cải, sử a chữa sai pha ̣m của minh , cần áp du ̣ng điểm b , s khoản 1, khoản 2 Điều

̀ 51; Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự , giao bi ̣ cáo về cho gia đinh và chinh quyền đi ̣a

̀

̀

́ phương nơi bi ̣ cáo cư trú phối hợp giám sát , giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp với quy đi ̣nh của pháp luật, đồng thờ i phù hợp vớ i quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Về hinh pha ̣t bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra cũng như tại

̀ phiên toà cho thấy, bản thân bị cáo làm nghề trồng trọt, là hộ nghèo, nguồn thu nhâ ̣p chinh của gia đinh chủ yếu là do trồng tro ̣t mà có , hoàn cảnh gia đình đặc

́

̀ biệt khó khăn , không có tài sản gì có giá trị , nên Hô ̣i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.

[4] Về vâ ̣t chứ ng vu ̣ án:

Đối vớ i 01 dao quắm, tổng chiều dài 108cm, cán gỗ dài 73cm, lưỡi dao dài 35cm, bản dao rộng 3,1cm, dao cũ đã qua sử dụng. Xét là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiê ̣m dân sự: Ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La không yêu cầu bi ̣ cáo phải bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i và cũng không có ý kiến khiếu na ̣i gi, do không được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với diện

̀ tích rừng do S hủy hoại. Vì vậy HĐXX không đề cập đến việc giải quyết.

Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng 29,016 m3 gỗ tạp (gỗ tròn) từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 72.540.000 đồng thuộc sở hữu Nhà nước, do đó căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Mùa A S là dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hô ̣i, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[7] Về quyền kháng cáo : Bị cáo, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiê ̣n quyền kháng cáo theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Mùa A S (Tên gọi khác: Mùa A S B) phạm tội “Hủy hoại rừng”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Xử phạt Mùa A S (Tên gọi khác: Mùa A S B) 20 (Hai mươi) tháng tù , nhưng cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng.

Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Mùa A S cho UBND xa Phiêng Khoài, huyê ̣̃

n Yên Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trườ ng hợp ngườ i được hưở ng án treo thay đổi nơi cư trú thi thực hi

ện

̀ theo quy đi ̣nh tại khoản 3 Điều 92 Luâ ̣t Thi hành án hinh sự năm 2019.

̀

Trong thờ i gian thử thách , ngườ i được hưở ng án treo cố ý vi pha ̣m nghiã vụ hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586,589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015:

Ghi nhận viêc ban quản lý Bản S, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Tuyên buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Nhà nước với số tiền 72.540.000 (Bảy mươi hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).

3. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 dao quắm, tổng chiều dài 108cm, cán gỗ dài 73cm, lưỡi dao dài 35cm, bản dao rộng 3,1cm, dao cũ đã qua sử dụng.

4. Về Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội . Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Mùa A S.

Bị cáo, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ