vanban.org

Bản án 38/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HS-ST
Ngày 17 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Chỉnh - Phó Hiệu trưởng trường THCS Nghĩa An

Bà Phạm Hồng Minh - Chủ tịch Hội LHPN xã Tân Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2022/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đoàn Minh T, sinh ngày: 12/8/2004; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố số 7, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Hoạt, sinh năm 1973; con bà Trần Thị Viềng, sinh năm 1979; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị bắt tạm giữ từ ngày 04/7/2022 đến ngày 07/7/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).

2. Người bào chữa cho bị cáo:Bà Trần Thị Ngọc - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 04/7/2022, Tổ công tác Công an huyện N làm nhiệm vụ tuần tra tại trục đường quốc lộ 21B, thuộc địa phận xóm 2, xã Nam Tiến, huyện N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy bị cáo Đoàn Minh T đang đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính về người, phát hiện thu giữ trong túi áo bên trái của bị cáo 02 (hai)túi nilon màu trắng, trong đó 01 (một) túi bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, 01 (một) túi bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu xanh lá, bị cáo khai nhận là ma túy, trước đó vào khoảng 14 giờ ngày 04/7/2022 bị cáo đi xe ôm từ nhà, đến khu vực thôn Đồng Quỹ, xã Nam Tiến, huyện N, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không biết rõ tên tuổi địa chỉ với giá 2.000.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được số ma túy trên, bị cáo cất giấu vào túi áo bên trái đang mặc và đi bộ theo hướng đường quốc lộ 21B, thuộc địa phận xóm 2, xã Nam Tiến để bắt xe về nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) túi nilon bên trong đựng 02 (hai) viên nén màu xanh lá niêm phong kí hiệu M1, 01 (một) túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng niêm phong kí hiệu M2;

Tại bản kết luận giám định số 997/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận:

- Mẫu gồm 02 (hai) viên nén màu xanh lá trong 01 (một) túi nilon màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: MDMA. Khối lượng mẫu M1: 0,657 gam;

- Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Khối lượng: 0,979 gam.

Tại Cơ quan CSĐT bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Cáo trạng số: 43/CT-VKS ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đoàn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;Điều 91; Điều 101Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong 01 phong bì thư số: 997/GĐKTHS của Công an tỉnh Nam định ghi hoàn trả mẫu vật giám định.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: Bà nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo phạm tội là do thiếu sự quan tâm giám sát của gia đình, tuổi còn nhỏ, nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp mà viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định mua ma túy về để sử dụng nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, do tuổi đời còn trẻ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo,đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 04 tháng 7 năm 2022, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định số: 997/GĐKTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 4 tháng 7 năm 2022, tại khu vực quốc lộ 21B, thuộc địa phận xóm 2, xã Nam Tiến, huyện N, tỉnh Nam Định, lực lượng Công an huyện N phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người có khối lượng là 0.979gam Ketamine và 0,657gam MDMA mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy, nhưng vì ham chơi, đua đòi cố ý mua về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, theo quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự, nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, mua ma túy về để sử dụng nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy được niêm phong trong 01 phong bì thư số: 997/GĐKTHS của phòng kỹ thuật - Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn mẫu vật sau giám định là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong 01 phong bì thư số: 997/GĐKTHS của phòng kỹ thuật - Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn mẫu vật sau giám định (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2022 giữa cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáocó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ