- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tùng C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tùng C về việc xin giảm nhẹ hình ph t; iữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-PT Ngày: 19-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quản
Ông Lương Thanh Chín
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022 t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 08/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Lê Tùng C, do có kháng cáo của bị cáo Lê Tùng C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Tùng C, sinh năm 1999 t i tỉnh Bình Thuận; Tên gọi khác: H lộ; Nơi cư trú: Khu phố M, phường MN, thành phố PT tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; iới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh M và bà Nguyễn Thị Bích V; Bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 21/6/2021 đến ngày 30/6/2021, có mặt t i phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Võ Quốc H sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố M phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
2. Ông Đỗ Ngọc H sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố M1, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
3. Ông Huỳnh Văn L sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố M phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
4. Ông Lâm T sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố M1 phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
5. Ông Nguyễn Văn K sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố B phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
- Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án:
1. Ông Phan Anh K – Phó Đồn trư ng Đồn Biên phòng MN (vắng mặt);
2. Ông Văn Thanh T – Đội trư ng Phòng chống ma túy và tội ph m thuộc Đồn Biên phòng MN (vắng mặt);
3. Ông Ph m Ngọc T – Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PT (có mặt);
4. Ông Trần Công N – Phó Trư ng Công an phường MN (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo bản án sơ thẩm:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/6/2021, do có nhu cầu sử d ng ma túy, Lê Tùng C gọi điện tho i cho 01 người ph nữ (không rõ nhân thân) hỏi mua 300.000đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán và hẹn C đến khu vực bãi đá Ông Địa thuộc phường HT, thành phố Phan Thiết. C mượn xe của 01 người b n (không rõ nhân thân) để đi đến điểm hẹn, t i đây C đưa số tiền cho hai người đàn ông (không rõ nhân thân) và nhận ma túy được đựng trong 01 đo n ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu sau đó điều khiển xe quay về nhà t i khu phố M phường MN, thành phố PT. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 21/6/2021, C lấy bộ d ng c sử d ng ma túy để trên giường, cắt đo n ống nhựa chứa ma túy đá trên bỏ một ít vào nỏ và sử d ng. Sau đó C đi ra phía sau nhà nghe điện tho i thì có Huỳnh Văn L và Đỗ Ngọc H đến để dự sinh nhật con của C. Khi L, H đi qua phòng ngủ thấy có bộ d ng c sử d ng ma túy đá nên tự vào sử d ng. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày 21/6/2021, khi C vừa quay tr vào l i phòng ngủ thì phát hiện lực lượng Đồn Biên phòng MN đến kiểm tra nên bỏ ch y ra phía ngoài, lúc ch y C có ném ra 01 đo n ống nhựa chứa ma túy đá còn chưa sử d ng hết thì bị phát hiện, thu giữ. Tiến hành kiểm tra t i phòng ngủ phát hiện C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về tr s làm việc. T i đây C thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm m c đích sử d ng.
Vật chứng thu giữ:
1. Thu giữ trên giường, trong phòng ngủ của Lê Tùng C gồm:
- Chất tinh thể rắn, màu trắng rơi vãi trên giường ngủ, lực lượng chức năng thu gom vào 01 gói nylon màu trắng, một đầu có khóa đóng có kích thước 04 x 05 cm để niêm phong ph c v giám định (được niêm phong ký hiệu M1).
- Chất tinh thể rắn, màu vàng nh t thu giữ bên trong bộ d ng c sử d ng ma túy (nỏ), lực lượng chức năng thu gom vào 01 gói nylon màu trắng, một đầu có khóa đóng có kích thước 04 x 06 cm để niêm phong ph c v giám định (được niêm phong ký hiệu M2).
- 01 bộ d ng c sử d ng ma túy (nỏ).
- 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu trắng, có sim số 0981.212…., số Imei: 355904/05/776169/… và 01 điện tho i di động hiệu Samsung A50, màu xanh, số Imei: 35625910216…, không có sim.
2. Thu giữ t i vị trí bên ngoài nhà nơi Lê Tùng C bị bắt giữ gồm:
- 01 đo n ống nhựa màu trắng, một đầu chưa được hàn kín có kích thước 1,7 x 3,5 cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, d ng rắn (được niêm phong ký hiệu M3).
T i bản kết luận giám định số 824/KL Đ – PC09 ngày 28/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
- Mẫu M1 có khối lượng 0,3503gam là Methamphetamine;
- Mẫu M2 có khối lượng 0,2114gam là Methamphetamine;
- Mẫu M3 có khối lượng 0,2454gam là Methamphetamine;
Hoàn l i mẫu vật gửi đến giám định:
- ói nylon như mô tả t i m c II.1 và 0,2793gam mẫu M1 còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 824/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
- ói nylon như mô tả t i m c II.2 và 0,0791gam mẫu M2 còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 824/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
- ói nylon như mô tả t i m c II.3 và 0,1476gam mẫu M3 còn l i sau giám định được niêm phong trong phong bì số 824/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với các phong bì số 824/1, 824/2, 824/3, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ d ng c sử d ng ma túy (nỏ) 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu trắng, có sim số 0981.212…, số Imei: 355904/05/776169/…, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
- Đối với 01 điện tho i di động hiệu Samsung A50, màu xanh, số Imei: 35625910216… không có sim quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của C không liên quan đến v án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã tiến hành trả l i cho C.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tùng C ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tùng C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 21/6/2021 đến ngày 30/6/2021 vào phần hình ph t tù mà bị cáo phải chấp hành của bản án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20 tháng 12 năm 2021, bị cáo Lê Tùng C kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Kiểm sát viên có ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để xử ph t bị cáo 15 tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là thỏa đáng ph hợp với tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi kháng cáo kêu oan và cho rằng số ma túy rơi vãi trên giường trong phòng ngủ của bị cáo và gói ma túy thu giữ bên ngoài nhà bị cáo khi bắt giữ bị cáo không phải của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Bị cáo Lê Tùng C thay đổi kháng cáo kêu oan và cho rằng số ma túy rơi vãi trên giường trong phòng ngủ của bị cáo và gói ma túy thu giữ bên ngoài nhà của bị cáo khi bắt giữ bị cáo không phải của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] T i phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Tùng C thay đổi kháng cáo kêu oan và cho rằng số ma túy rơi vãi trên giường trong phòng ngủ của bị cáo và gói ma túy thu giữ bên ngoài nhà bị cáo khi bắt giữ bị cáo không phải của bị cáo, chỉ thừa nhận số ma túy thu được trong nỏ bị cáo đang hút còn là của bị cáo.
[2] Xét lời khai của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Quá trình điều tra bị cáo đều thống nhất khai nhận số ma túy được thu giữ và thể hiện trong các Biên bản bắt người ph m tội quả tang; Biên bản t m giữ đồ vật, tài liệu và Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị t m giữ cùng ngày 21/6/2021 là của bị cáo mua của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch t i khu vực bãi đá Ông địa thuộc phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết.
[2.2] Lời khai nhận này của bị cáo trong quá trình diều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của Đỗ Ngọc H (là b n của bị cáo), Huỳnh Văn L (là anh vợ của bị cáo) là các đối tượng sử d ng ma túy t i phòng ngủ của bị cáo trước khi cơ quan chức năng bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.
[2.3] Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người chứng kiến khi cơ quan chức năng lập Biên bản bắt người ph m tội quả tang; Biên bản t m giữ đồ vật, tài liệu và Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị t m giữ.
[2.4] T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai s dĩ bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy là của bị cáo là do trong quá trình điều tra bị cáo bị các cán bộ biên phòng, cán bộ điều tra đánh đe dọa, ép phải nhận và khẳng định chỉ có cán bộ biên phòng, cán bộ điều tra đe dọa, ép cung nên bị cáo mới khai nhận. Tuy nhiên, t i bút l c số 125-126, Kiểm sát viên lấy lời khai, bị cáo vẫn khai nhận hành vi ph m tội như khai với Cơ quan điều tra. T i phiên tòa phúc thẩm người có thẩm quyền tiến hành tố t ng được triệu tập tham gia phiên tòa cũng khẳng định không có việc đánh đập đe dọa, ép bị cáo khai nhận như bị cáo khai n i t i phiên tòa.
[3] Vì vậy đủ cơ s để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 21/6/2021, t i khu phố M phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Lê Tùng C bị lực lượng chức năng thuộc Đồn Biên phòng MN phát hiện, bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,8071gam Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 824/KL Đ – PC09 ngày 28/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận). Toàn bộ số ma túy này là do bị cáo mua của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch, m c đích để sử d ng.
[4] Với hành vi ph m tội trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Lê Tùng C ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[5] T i đơn kháng cáo bị cáo kháng cáo thừa nhận hành vi ph m tội và xin giảm nhẹ hình ph t nhưng t i phiên tòa phúc thẩm bị cáo l i không thừa nhận toàn bộ số ma túy là của bị cáo. Tuy nhiên từ những nhận định trên đã đủ căn cứ kết tội đối với bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc không có cơ s để xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là ph hợp.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định t i điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tùng C về việc xin giảm nhẹ hình ph t; iữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tùng C ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38, khoản 1 Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tùng C 15 (mười lăm) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị t m giữ từ ngày 21/6/2021 đến ngày 30/6/2021.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội;
Buộc bị cáo Lê Tùng C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2021/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA TP P.Thiết; - S Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố t ng; - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ Tổ HCTP, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguy n H ng Thái |