vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: A Nguyễn Thế A được ly hôn chị Nguyễn Thị Th.

Về con chung: Giao cho A Nguyễn Thế A được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Cường, sinh ngày 7/10/201. Giao cho chị Nguyễn Thị Th được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Tiến, sinh ngày 31/8/2014. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: A Nguyễn Thế A được ly hôn chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST
Ngày 8/9/2022
V/v: Ly hôn giữa A Thế A với chị Th.

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Dũng, ông Nguyễn Văn Đức.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 8 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 121/2022/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022 về “TrA chấp về hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: A Nguyễn Thế A, sinh năm 1984. (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Lam Cầu, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ Th, sinh năm 1985. (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 3 phố Hồ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của các đương sự có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

A Nguyễn Thế A kết hôn với chị Nguyễn Thị Lệ Th vào tháng 12/2008, kết hôn do hai bên tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống hạnh phúc và đã có với nhau 02 con chung, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì nảy sinh mâu thuẫn.

Phía A Thế A trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn theo A chủ yếu do vợ chồng không hợp tính nhau, vợ chồng suy nghĩ trái ngược, bất đồng nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống nên đã làm cho cuộc sống chung vô cùng căng thẳng. Vợ chồng không thể hoà hợp được, thường chiến trA lạnh với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Kể từ cuối năm 2020 đến nay vợ chồng đã ly thân không còn chung sống cùng nhau, cô Th cùng với các con chuyển ra thị trấn Hồ sinh sống. Trong thời gian ly thân vợ chồng vẫn không cải thiện được mối quan hệ, tình cảm vợ chồng coi như chấm dứt. Nay A thấy vợ chồng đã không thể tiếp tục chung sống được nữa nên A đề nghị Toà án giải quyết để vợ chồng A được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là các cháu Nguyễn Minh Cường, sinh ngày 7/10/2012 và cháu Nguyễn Minh Tiến, sinh ngày 31/8/2014. Hiện hai cháu đang ở cùng với mẹ tại thị trấn Hồ. Ly hôn A có nguyện vọng được nuôi con, A đề nghị được nuôi một trong hai con, cháu Tiến hoặc cháu Cường. Nếu được nuôi con A không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con cùng A.

Về tài sản chung: A Thế A không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phía chị Th trình bày: Chị Th xác nhận việc chị kết hôn với A Nguyễn Thế A như A Thế A đã trình bày là đúng. Theo nội dung bản tự khai ngày 17/6/2022 thì chị Th thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng cũng đã có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do A Thế A đã thiếu tôn trọng chị, vợ chồng cũng có nhiều bất đồng trong suy nghĩ, tính cách. Chị cũng thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị thuận tình ly hôn. Tuy nhiên sau đó chị Th thay đổi ý kiến không đồng ý thuận tình ly hôn với A Thế A vì chị thấy rằng vợ chồng vẫn có thể đoàn tụ được. Nhất là hiện nay cháu Cường đang học cuối cấp 2, chị muốn cháu ổn định tinh thần để học tập tốt trong năm chuyển cấp. Chị đề nghị Toà án tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ.

Về con chung: Chị Th xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Minh Cường và cháu Minh Tiến như A Thế A đã trình bày là đúng. Kể từ thời điểm vợ chồng ly thân vào tháng 7/2021 đến nay hai con ở cùng với chị tại thị trấn Hồ. Trường hợp nếu phải ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi hai cháu vì hiện các cháu đang ở cùng nhau. Bản thân chị là giáo viên cũng có điều kiện về thời gian, cũng như chị cũng đủ điều kiện khác như chỗ ăn ở, thu nhập để chăm sóc con chung được tốt. Nếu được nuôi hai con chung chị cũng không yêu cầu A Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa A Thế A vẫn đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho A được ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, tình nghĩa vợ chồng nên thể tiếp tục chung sống hạnh phúc được nữa. Việc nuôi con chung A đề nghị được trực tiếp nuôi một con, có thể là cháu Cường hoặc cháu Tiến. Trường hợp nếu cô Th đồng ý A có thể nhận nuôi cả hai cháu vì hiện A cũng có điều kiện về kinh tế, thu nhập cũng như nơi ăn chốn ở đảm bảo cho việc nuôi con chung. Phía chị Th tại phiên toà cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn với nhau đã kéo dài và trần trọng. Tuy nhiên chị không muốn vợ chồng ly hôn vì như thế sẽ ảnh hưởng đến việc học tập, phát triển của các con sau này. Chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ để các con có điều kiện ổn định tâm lý, ổn định cuộc sống để học tập tốt. Còn nếu A Thế A đồng ý để chị nuôi hai con chung thì chị cũng nhất trí ly hôn. Đối với điều kiện để nuôi hai con chung chị cũng đủ điều kiện vì chị là giáo viên có thời gian cũng như có kiến thức để dạy bảo các con. Chị cũng có đủ điều kiện về thu nhập, về chỗ ăn ở để đảm bảo cho các con có được cuộc sống tốt, phát triển tốt. Nếu được nuôi hai con chung chị không yêu cầu A Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung chị Th cũng không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tiến hành tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về vụ án: Về tố tụng, quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác và phía đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự, không có vi phạm phải kiến nghị khắc phục.

Về giải quyết vụ án: Vợ chồng A Thế A, chị Th kết hôn do tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã Hoài Thượng nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn và ngày càng trần trọng, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay nhưng vẫn không cải thiện được tình cảm. Tại phiên toà A Thế A vẫn giữ yêu cầu được ly hôn do A xác định vợ chồng đã không còn tình cảm gì. Chị Th không nhất trí ly hôn vì cho rằng vợ chồng ly hôn mà mỗi cháu ở với một người sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con. Nếu được nuôi hai con chung chị cũng nhất trí ly hôn. Như vậy về mặt tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đính hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử cho A Thế A được ly hôn chị Th. Về con chung giao cho A Thế A được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Cường, chị Th trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Tiến. Cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung hai bên không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm non con chung theo quy định của pháp luật. Về án phí A Thế A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Yêu cầu khởi kiện ly hôn của A Thế A được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự nên việc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý yêu cầu khởi kiện ly hôn của A Thế A là đúng quy định của pháp luật.

. A Nguyễn Thế A kết hôn với chị Nguyễn Thị Lệ Th vào tháng 12/2008, kết hôn do hai bên tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà, phía A Thế A trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng cũng đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, mà nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng trong cuộc sống, quan niệm cũng như cách sống không phù hợp. Vợ chồng mâu thuẫn nhau trầm trọng dẫn đến không khí gia đình luôn nặng nề, căng thẳng, cuộc sống vợ chồng, gia đình không có hạnh phúc. Đã từ nhiều năm nay mối quan hệ vợ chồng luôn ở tình trạng căng thẳng, không có tình cảm như vậy nhưng cả hai vẫn không thể khắc phục được. Về điều này thì cũng đã được chị Th thừa nhận tại nội dung bản tự khai ngày 17/6/2022 mà chị đã trình bày, chị cũng cho rằng vợ chồng đã từ lâu không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng. Tại phiên toà hôm nay chị Th có nguyện vọng hoà giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, vì chị không muốn các con phải sống xa nhau nếu mỗi cháu ở với bố hoặc mẹ. Trường hợp nếu hai con được ở với mẹ thì chị cũng đồng ý ly hôn như yêu cầu của A Thế A. Thấy rằng, nguyện vọng đoàn tụ để nuôi dạy con chung của chị Th là chính đáng, và cũng là mong muốn chung không của riêng chị Th. Tuy nhiên mục đích của hôn nhân tự nguyện tiến bộ là xây dựng gia đình hạnh phúc, gia đình phải là một nền tảng vững chắc của xã hội. Vợ chồng A Thế A, chị Th mâu thuẫn với nhau đã kéo dài, tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không có hạnh phúc. Kể từ thời điểm ly thân đến nay hai bên cũng vẫn không cải thiện được mối quan hệ tình cảm, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn giữa A Thế A với chị Th đã trầm trọng và kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của A Thế A, xử cho A Thế A được ly hôn với chị Th.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là các cháu Nguyễn Minh Cường, sinh ngày 7/10/2012 và cháu Nguyễn Minh Tiến, sinh ngày 31/8/2014. Xét đề nghị nuôi con chung của cả A Thế A cũng như của chị Th thì thấy. Hiện cả A Thế A và chị Th về điều kiện để chăm sóc nuôi con chung đều có điều kiện, cả hai đều có thu thập thường xuyên đảm bảo cho việc chăm lo cho con chung. A Thế A và chị Th cũng có điều kiện về chỗ ăn, chỗ ở đảm bảo cho việc chăm lo cho các cháu. Các cháu nếu ở với bố hay ở với mẹ đều được đảm bảo cho việc học tập, phát triển sau này. Tại phiên toà A Thế A đề nghị được nuôi một con chung, trường hợp chị Th đồng ý thì A đề nghị được nuôi cả hai con chung. Chị Th để nghị được nuôi cả hai con chung. Thấy rằng quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn là quyền lợi chính đáng của cả bố và mẹ. A Thế A và chị Th cũng đều có điều kiện để đảm bảo cho việc chăm nuôi con được tốt, nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho mỗi người nuôi một con chung. Do hiện nay cháu Minh Tiến còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ hơn nên cần giao cho A Thế A trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Minh Cường, giao cho chị Th được trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Minh Tiến, như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu tại phiên toà là phù hợp. Chi phí cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: A Thế A, chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết nên cũng không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về án phí: A Thế A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

1. Về quan hệ hôn nhân: A Nguyễn Thế A được ly hôn chị Nguyễn Thị Th.

2. Về con chung: Giao cho A Nguyễn Thế A được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Cường, sinh ngày 7/10/201. Giao cho chị Nguyễn Thị Th được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Tiến, sinh ngày 31/8/2014. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản việc thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

4. Về án phí: A Nguyễn Thế A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn mà A Thế A đã nộp theo biên lai thu số 0005574 ngày 02/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

5. Về quyền kháng cáo: A Thế A, chị Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ