vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ph được ly hôn anh Thái Mạnh H.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Thái Thị Ngọc Tr, sinh ngày 29/01/2009 cho chị Lê Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thi Ph ly hôn Thái Mạnh H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ph được ly hôn anh Thái Mạnh H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HNGĐ - ST
Ngày 29 - 12 - 2022
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ph

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phúc Lâm

Bà Hoàng Thị Thúy Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hùng: Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 234/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ph; sinh năm 1976

Nơi ĐKHKTT: Khối Sa N, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An

Chỗ ở: Khối Hồ S, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Thái Mạnh H; sinh năm 1976

Nơi cư trú: Khối Sa N, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10/8/2022 và quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Ph trình bày: Chị và anh Thái Mạnh H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vân D (nay là thị trấn NĐ), huyện NĐ, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/4/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không tu chí làm ăn, không quan tâm vợ con, ham vui chơi. Vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, không cùng chí hướng trong xây dựng hạnh phúc gia đình, không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Từ năm 2017 chị Ph đã về bên ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ đó đến nay. Nay nhận thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Ph yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Thái Mạnh H.

Về con chung: Chị Lê Thị Ph và anh Thái Mạnh H có 01 con chung là Thái Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 29/01/2009. Từ nhỏ đến năm 2017 cháu sống cùng chị Ph và anh H. Đến năm 2017 khi chị Ph về nhà mẹ đẻ sống thì cháu sống với anh H và bà nội là Hà Thị Dần. Tại đơn khởi kiện chị Ph có nguyện vọng được giao con cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Tuy nhiên, tại Bản tự khai ngày 14/11/2022 và tại Biên bản ghi lời khai chị Ph có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con với lý do anh H không có việc làm, không có thu nhập nên không đảm bảo được cuộc sống cho con. Bản thân cháu Trâm là con gái nên rất cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ.

Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Ph trình bày: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, nên chị Ph không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Thái Mạnh H: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H thông qua bà Hà Thị Dần (mẹ anh H) theo đúng quy định, tuy nhiên anh H không đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự bà Hà Thị Dần mẹ đẻ anh Thái Mạnh H trình bày: Anh Thái Mạnh H và chị Lê Thị Ph kết hôn với nhau vào năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh H tại khối Sa Nam, thị trấn Nam Đàn. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân một phần là do anh H ham chơi, không tu chí làm ăn không quan tâm vợ con nên chị Ph đã bỏ về bên ngoại sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Từ năm 2017 đến nay chị Ph về sống với bên ngoại thì cháu Thái Thị Ngọc Tr ở với bà và anh Thái Mạnh H. Tuy nhiên, hiện nay bà tuổi đã cao, sức khỏe yếu, anh Thái Mạnh H không có việc làm, thu nhập nên bà đồng ý giao cháu Trâm cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh H mặc dù anh H có mặt tại địa Ph nhưng không hợp tác, không trực tiếp đến Tòa để làm việc. Qua trao đổi bà Dần anh H đồng ý ly hôn với chị Ph và đồng ý giao con cho chị Ph nuôi dưỡng. Cháu Thái Thị Ngọc Tr có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại phiên tòa ngày 13/12/2022 anh Thái Mạnh H vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa ngày 29/12/2022 anh Thái Mạnh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do; chị Lê Thị Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh NA phát biểu ý kiến về sự tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án: Chị Lê Thị Ph được ly hôn anh Thái Mạnh H

Giao con chung Thái Thị Ngọc Tr, sinh ngày 29/01/2009 cho chị Lê Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Thái Mạnh H do chị Ph chưa yêu cầu.

Về án phí: Chị Lê Thị Ph phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn

Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt nhưng chị Lê Thị Ph vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu được ly hôn anh Thái Mạnh H.

Xét thấy: Chị Lê Thị Ph và anh Thái Mạnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 23/4/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Vân D (nay là thị trấn NĐ), huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Sau một thời gian kết hôn và chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm, thiếu sự cảm thông và chia sẻ lẫn nhau. Cuộc sống gia đình ngày càng nặng nề, căng thẳng; từ năm 2017 vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Theo cung cấp của bà Hà Thị Dần mẹ đẻ anh H thì chị Ph và anh H hiện không sống cùng nhau.

Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Ph và anh Thái Mạnh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ph.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị Ph và anh Thái Mạnh H có 01 con chung là cháu Thái Thị Ngọc Trâm, sinh ngày 29/01/2009. Từ năm 2017 đến nay cháu sống với anh Thái Mạnh H và bà nội là Hà Thị Dần. Tuy nhiên, hiện nay anh H không có việc làm, không có thu nhập. Bà Hà Thị D tuổi cao, sức khỏe yếu nên không thể chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Bản thân chị Lê Thị Ph có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cháu Thái Thị Ngọc Tr có nguyện vọng được ở với mẹ.

Đối với anh H mặc dù anh H không có ý kiến và không trực tiếp lên Tòa để làm việc nhưng qua trao đổi với bà Dần anh H nhất trí ly hôn và nhất trí giao con chung cho chị Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Thái Thị Ngọc Trâm học tập và phát triển tốt, do đó cần chấp nhận nguyện vọng của chị Lê Thị Ph. Giao cháu Thái Thị Ngọc Trâm cho chị Lê Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Thái Mạnh H do chị Ph chưa có yêu cầu. Anh Thái Mạnh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, cha mẹ có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[4] Đối với yêu cầu chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thaí Thị Ngọc Trâm từ năm 2017 đến nay của bà Hà Thị Dần: Quá trình giải quyết vụ án bà Hà Thị Dần không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Lê Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Lê Thị Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 51; 56, 57; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miến, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ph được ly hôn anh Thái Mạnh H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Thái Thị Ngọc Tr, sinh ngày 29/01/2009 cho chị Lê Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Thái Mạnh H. Dành quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Anh Thái Mạnh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, cha mẹ có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004799 ngày 01/11/2022.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ph và anh Thái Mạnh H vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ