- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, chia con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho chị Hồ Thị K ly hôn anh Hồ V.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Hồ V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi chung; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 38/2022/HNGĐ - ST Ngày: 20/5/2022 V/v ly hôn giữa chị K và anh V |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Ngọc Nhân, ông Đinh Minh Tặng
- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Thanh Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2021/HNGĐ – TLST ngày 03 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Hồ Thị K; sinh năm 1985
Địa chỉ: bản K, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình
Thường trú: bản K , xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2. Bị đơn: anh Hồ V; sinh năm 1983
Địa chỉ: bản K, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt lần thứ 2.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ: tiểu khu 1, thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
Ông Nguyễn Tất T – phó giám đốc là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 27/10/2021); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2021 và trong bản tự khai cũng như tại quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị K trình bày:
- về hôn nhân: chị và anh V kết hôn năm 2008 tại UBND xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, không cùng quan điểm sống, sống không hợp nhau, anh V thường xuyên rượu chè, say xỉn không chăm lo cho gia đình, vợ con, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng đầu năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh V.
- con chung của vợ chồng: hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Hồ Thị V, sinh ngày 19/4/2004 và Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 hiện tại hai con đang ở với chị K, nguyện vọng của chị K là xin được nuôi hai con và và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đ.
- tài sản chung: không có
- nợ chung: ngày 14/9/2019, hai vợ chồng có vay tại Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 5.000.000 đ. Đề nghị Tòa án chia đôi số nợ này.
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Hồ Thị V và Hồ T đều có nguyện vọng ở với chị Hồ Thị K.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tất T: ngày 14/9/2019, chị K và anh V có vay tại Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 5.000.000 đ khế ước vay số 6600000716183786, lãi suất 7,92%/năm để chăn nuôi bò sinh sản, nợ lãi tồn đọng đến 13/01/2022 là 40.000 đ, tổng dư nợ là 5.040.000 đ. Nay chị K và anh V làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nên đề nghị Tòa án buộc chị K và anh V phải có trách nhiệm trả cho Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án nếu giao tài sản là nhà ở, đất ở hoặc tài sản khác của hộ gia đình cho bà K hoặc anh V thừa hưởng thì phải giao trách nhiệm trả món vay số tiền 5.000.000 đ và lãi phát sinh cho người đó.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do anh V không đến Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Tòa án đã lấy lời khai của anh V tại bản K, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, nội dung: về quan hệ hôn nhân: anh V đồng ý ly hôn với chị K; về con chung: hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Hồ Thị V, sinh ngày 19/4/2004 và Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 hiện tại hai con đang ở với chị K, nguyện vọng của anh V là xin nuôi cháu Hồ T; về tài sản chung: không có; về nợ chung: hai vợ chồng có vay tại Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 5.000.000 đ, anh Vếch đề nghị chị K trả số nợ vay này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/02/2022 của cháu V và T: hai cháu V và T đều có nguyện vọng được ở với chị K.
Ngày 16/3/2022, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với chị K và anh V. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh V vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà với lý do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa:
Chị K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Về con chung: nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con là Hồ T yêu cầu anh V đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 500.000 đ, cháu V đã đủ 18 tuổi nên cha mẹ sẽ có trách nhiệm chung. Tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: đề nghị Tòa án chia đôi số nợ vay số tiền 5.000.000 đ của Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Ông Nguyễn Tất T: ngày 14/9/2019, chị K và anh V có vay tại Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 5.000.000 đ khế ước vay số 6600000716183786, lãi suất 7,92%/năm để chăn nuôi bò sinh sản, nợ lãi tồn đọng đến 20/5/2022 là 39.000 đ, tổng dư nợ là 5.039.000 đ. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị K có trách nhiệm trả nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 68, 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- về nội dung: về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Hồ Thị K và anh Hồ V; về con chung: giao con chung là Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đ; về tài sản chung: không có nên không xem xét; nợ chung: buộc chị K và anh V có trách nhiệm trả nợ gốc 5.039.000 đ và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Phòng giao dịch ngân hành chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, mỗi người phải trả số tiền 2.519.500 đ; chị K, anh V là hộ nghèo nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: chị K yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh V, tranh chấp trong vụ án là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại bản K, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt, nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: chị K và anh V kết hôn với nhau vào năm 2008 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc và được UBND xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
. Xét yêu cầu ly hôn của chị K: vợ chồng chị K và anh V không còn yêu thương, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau nữa thể hiện qua bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ đầu năm 2021. Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân của chị K và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản lấy lời khai anh V cũng đồng ý ly hôn nhưng do anh V không có mặt tại phiên tòa nên Tòa án không công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa mà Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các đương sự, chị K và anh V thuận tình ly hôn.
. Về con chung: hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Hồ Thị V, sinh ngày 19/4/2004 và Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 hiện tại hai con đang ở với chị K, Hội đồng xét xử xét thấy: hiện tại hai con đang ở chị K, cháu V đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét, chị K và anh V đều có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu T, cháu T có nguyện vọng được ở với chị K, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con cần giao cháu T cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 82 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Hồ V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi chung là cháu Hồ T mỗi tháng 500.000 đ cho đến khi cháu Tay đủ 18 tuổi.
. Về tài sản chung: không có nên Hội đồng xét xử không xét.
. Về nợ chung: đối với khoản vay số tiền 5.039.000 đ tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, chị K đề nghị chia đôi số nợ vay, anh V và ông T đề nghị buộc chị K trả hết số nợ vay, Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu chia đôi số nợ của chị K là hợp lý nên cần buộc chị K và anh V mỗi người phải trả cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 2.519.500 đ và lãi phát sinh.
. Về án phí: theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị K, anh V không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 116 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Hồ Thị K ly hôn anh Hồ V.
2. Về quan hệ con chung: giao con chung là cháu Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 cho chị Hồ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Hồ V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hồ T, sinh ngày 16/8/2006 mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con thì cha, mẹ trực tiếp nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung: không có nên Tòa không xét.
4. Về quan hệ nợ chung: xác định khoản nợ vay 5.039.000 đ của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa là nợ chung của chị K, anh V. Buộc chị Hồ Thị K và anh Hồ V mỗi người phải trả 2.519.500 đ (hai triệu năm trăm mười chín nghìn năm trăm đồng) số tiền gốc và lãi phát sinh của khoản nợ vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tinh Quảng Bình.
5. Về án phí: chị Hồ Thị K thuộc hộ nghèo nên không phải nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn.
Án phí phân chia nợ chung: chị K và anh V thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Án phí cấp dưỡng định kỳ: anh Hồ V thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/5/2022). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong án, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Minh Hóa; - THADS huyện Minh Hóa; - TAND tỉnh Quảng Bình; - UBND xã Trọng Hóa; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Đức Cảnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |