vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc B - Mai Văn L"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-9-2022
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Ven;

2. Bà Đỗ Ngọc Ngân Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Long An.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: Ấp 4, xã MQT, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Mai Văn L - Sinh năm 1978 - Địa chỉ: Ấp 4, xã MQT, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2022, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B trình bày và yêu cầu: Bà và ông Mai Văn L cưới nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MQT ngày 05-10-2006. Chung sống đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà và ông L đã ly thân từ năm 2017 đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với với ông Mai Văn L;

Về con chung: Bà và ông L có 04 con chung tên Mai Bảo S, sinh ngày 02-3-1995, Mai Bảo L1, sinh ngày 10-12-1998, Mai Gia B1, sinh ngày 17-10-2005 và Mai Thị Thanh A, sinh ngày 22-8-2009, hiện Gia B1 và Thanh A đang sống chung với bà. Bảo S và Bảo L1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung Gia B1 và Thanh A, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Bản tự khai ngày 19-8-2022, các văn bản tiếp theo, bị đơn ông Mai Văn L trình bày thống nhất trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc B về ngày tháng điều kiện kết hôn, nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn, con chung và việc không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc B. Về con chung: Bảo S và Bảo L1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Gia B1 và Thanh A nguyện vọng muốn sống với ai người đó nuôi, người còn lại không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết sau, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

- Vụ án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Mai Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt.

- Ngày 18-8-2022, ông Mai Văn L nộp đơn xin xét xử vắng mặt; Ngày 12-9-2022, bà Nguyễn Thị Ngọc B nộp đơn xin xét xử vắng mặt; Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Nguyễn Thị Ngọc B khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Mai Văn L; Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Bà B, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; [3] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. [4] Xét về hôn nhân: [4.1] Bà B và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày 05-10-2006 tại Ủy ban nhân dân xã MQT, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà Bvà ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. [4.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà B và ông L: Bà B cho rằng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2017 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đã ly thân từ năm 2017, ông L cho rằng còn sống chung nhà. Xét từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, bà B và ông L không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà B và ông L mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà B và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà B yêu cầu ly hôn là có căn cứ và việc ông L tự khai đồng ý ly hôn là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.

Xét về nuôi con chung:

Xét việc bà B và ông L thống nhất 02 con chung tên Mai Bảo S, sinh ngày 02-3-1995 và Mai Bảo L1, sinh ngày 10-12-1998 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận;

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung Gia B1 và Thanh A của bà B: Xét 02 con chung tên Mai Gia B1, sinh ngày 17-10-2005 và Mai Thị Thanh A, sinh ngày 22-8-2009, hiện sống chung với bà B từ trước đến nay, nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với bà B, ông L thống nhất nguyện vọng con chung muốn sống với ai người đó nuôi, nên yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung của bà B là có căn cứ, việc thống nhất của ông L là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Xét về cấp dưỡng nuôi con: Bà B không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà B và ông L được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Bà B trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông L trình bày có tài sản chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập, Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia nợ chung: Bà B và ông L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc B và ông Mai Văn L. 2. Về nuôi con chung: 2.1. Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự: 02 con chung tên Mai Bảo S, sinh ngày 02-3-1995 và Mai Bảo L1, sinh ngày 10-12-1998 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; Bà Nguyễn Thị Ngọc B được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Mai Gia B1, sinh ngày 17-10-2005 và Mai Thị Thanh A, sinh ngày 22-8-2009, hiện sống chung với bà B. Ông Mai Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. 2.2. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà B và ông L được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. 4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo Biên lai thu số 0005244 ngày 15-6-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà B đã nộp đủ án phí. 5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ