vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ L.

Về hôn nhân: xử cho chị Lâm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lý Trường G. Về con chung: giao cháu Lý Thị Thúy K, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2011 cho chị Lâm Thị Mỹ L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu K thành niên. Anh Lý Trường G không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lâm Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn với anh Lý Trường G"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 28-9-2022.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Bà Lê Thị Thanh Nhã.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng (điểm cầu trung tâm) và Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án thụ lý số: 23/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 3 năm 2022 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Mỹ L, sinh năm: 1982 “có mặt tại điểm cầu thành phần”.

Cư trú tại: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Lý Trường G, sinh năm: 1978 “vắng mặt ”.

Cư trú tại: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lâm Thị Mỹ L trình bày:

- Về hôn nhân: chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G tự nguyện chung sống vào tháng 8 năm 2010, nhưng đến ngày 29/12/2011 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống chị L và anh G chung sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị L và anh G sống ly thân từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay. Nay chị L yêu cầu được ly hôn với anh G.

- Về con chung: trong thời gian chung sống chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G có 01 người con chung tên Lý Thị Thúy K, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2011. Hiện nay cháu K đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, chị L không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G không có tài sản chung và nợ chung, nên chị L không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Lâm Thị Mỹ L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trên.

* Bị đơn là anh Lý Trường Giang đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, nên anh Giang đã biết được yêu cầu khởi kiện của chị Linh, nhưng anh Giang không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L.

Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Lý Trường G tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng anh G vắng mặt không có lý do và anh G cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Mỹ L. Về hôn nhân: xử cho chị L được ly hôn với anh G; về con chung: giao cháu Lý Thị Thúy K, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2011 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu K thành niên, do chị L không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con, nên anh G không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: chị L và anh G không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2022 của nguyên đơn chị Lâm Thị Mỹ L thì chị L kiện anh Lý Trường G là bị đơn cư trú tại ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn chị Lâm Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là anh Lý Trường G. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Lý Trường G là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh G.

Về quan hệ hôn nhân: chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị L và anh G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị L và anh G là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì chị L và anh G chung sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên chị L và anh G sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị L và anh G không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị L và anh G không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Chị L yêu cầu được ly hôn; anh G không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L.

Xét thấy: hiện nay hôn nhân của chị L và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L yêu cầu được ly hôn với anh G là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị L được ly hôn với anh G.

Về con chung: trong thời gian chung sống chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G có 01 người con chung tên Lý Thị Thúy K, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2011; từ khi chị L và anh G sống ly thân cho đến nay chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu K; chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K cho đến khi cháu K thành niên, chị L không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con; anh G không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L.

Xét thấy: từ khi chị L và anh G sống ly thân cho đến nay chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, hiện nay cháu K đang có cuộc sống ổn định cùng với chị L, nguyện vọng của cháu K cũng muốn được tiếp tục sống chung với chị L, nên việc chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu K và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, xử giao cháu K cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu K thành niên. Do chị L không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con, nên anh G không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh G, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G không có tài sản chung, chị L và anh G không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G không có nợ chung, chị L và anh G không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ L. Như đã nhận định ở phần trên, xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Lâm Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001815 ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lý Trường G không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ L.

1. Về hôn nhân: xử cho chị Lâm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lý Trường G.

2. Về con chung: giao cháu Lý Thị Thúy K, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2011 cho chị Lâm Thị Mỹ L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu K thành niên. Anh Lý Trường G không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh G, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Lâm Thị Mỹ L và anh Lý Trường G không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Lâm Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001815 ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lý Trường G không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Lâm Thị Mỹ L có mặt tại phiên tòa (điểm cầu thành phần) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn anh Lý Trường G không có mặt tại phiên tòa (điểm cầu thành phần) thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ