vanban.org

Bản án 38/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 26/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vay.

Buộc ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 số tiền 243.956.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Quách Tấn T1, ông Phan Việt T2 có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ phải trả lãi theo lãi suấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vay.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/DS-ST
Ngày: 26-5-2022
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tân

Ông Trương Văn Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm tham gia phiên Tòa: Ông Lý Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 26 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 60/2021/TLST-DS, ngày 29 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2022/QĐST- DS ngày 04 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Quách Tấn T1; sinh năm: 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, E, tỉnh Sóc Trăng

Ông Phan Việt T2; sinh năm: 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã E, tỉnh Sóc Trăng

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phan Việt T: Ông Quách Tấn T; sinh năm: 1980

Địa chỉ: Ấp A, xã C, thị xã E, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P; (vắng mặt)

Ông Nguyễn Văn Đ; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã T, thị xã E, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/3/2021 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Quách Tấn T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phan Việt T – ông Quách Tấn T trình bày:

Vào ngày 01/01/2019, ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 có cho cha con ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ vay số tiền 150.000.000 đồng, việc cho vay hai bên có lập văn bản là: “Hợp đồng cho cá nhân vay tiền” đề ngày 01/01/2019, hai bên thống nhất ký tên vào hợp đồng vay và thỏa thuận lãi suất theo quy định pháp luật là 20%/năm (1,66%/tháng) đồng thời thỏa thuận thời hạn trả toàn bộ số tiền vốn vào ngày 11/7/2020. Ông T1 và ông T2 đã giao đủ số tiền vay cho ông P và ông Đ. Sau khi vay, ông P và ông Đ chỉ thanh toán được 03 tháng lãi tức là đến ngày 01/4/2019 cho đến nay, ông P và ông Đ không tiếp tục thanh toán lãi và vốn cho ông T1 và ông T2. Ông T1 và ông T2 nhiều lần yêu cầu ông P và ông Đ thanh toán nhưng ông P và ông Đ không thanh toán.

Nay ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 yêu cầu ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vốn gốc 150.000.000 đồng và lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 01/4/2019 cho đến ngày xét xử (ngày 23/5/2022) là 93.956.000 đồng, tổng tiền vốn gốc và lãi là 243.956.000 đồng.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 nhưng ông P và ông Đ không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Đồng thời, ông P, ông Đ cũng vắng mặt không có lý do trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 19/01/2022. Tòa án đã thông báo về việc công khai toàn bộ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ cho ông P và ông Đ và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 04/5/2022, bị đơn ông P và ông Đ vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với các bị đơn, Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng các bị đơn là ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông P và ông Đ theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án xác định tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 về việc yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Tấn P và Nguyễn Văn Đ thanh toán tổng số tiền 243.956.000 đồng. Đồng thời, quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 khởi kiện đối với các bị đơn ông Nguyễn Tấn P và Nguyễn Văn Đ, ông P, ông Đ có địa chỉ cư trú tại ấp V, xã T, thị xã E, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vay vốn gốc là 150.000.000 đồng, xét thấy: Việc các bị đơn vay tiền của các nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, khi vay có làm Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 01/01/2019, hai bên thống nhất ký tên vào hợp đồng vay và thỏa thuận lãi suất theo quy định pháp luật (tương ứng 1,66%/tháng) đồng thời thỏa thuận thời hạn trả toàn bộ số tiền vốn vào ngày 11/7/2020. Ông T1 và ông T2 đã giao đủ số tiền vay cho ông P và ông Đ. Sau khi vay, ông P và ông Đ chỉ thanh toán được 03 tháng lãi tức là đến ngày 01/4/2019 cho đến nay ông P và ông Đ không tiếp tục thanh toán lãi và vốn cho ông T1 và ông T2. Do đó, xác định đây cũng là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Ông T1 và ông T2 đã nhiều lần yêu cầu ông P và ông Đ thanh toán nhưng ông P và ông Đ chỉ hứa hẹn mà không trả nợ nên ông P và ông Đ có nghĩa vụ trả tiền vay theo quy định tại khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo và công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong vụ án nhưng ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ không phản đối và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên đây thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số nợ gốc 150.000.000 đồng với lãi suất là 1,66%/tháng kể từ ngày 01/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/5/2022) với tổng số tiền là 93.956.000 đồng. Đây là lãi suất phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 được chấp nhận nên các bị đơn ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 470; khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán tiền vay.

Buộc ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 số tiền 243.956.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Quách Tấn T1, ông Phan Việt T2 có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn Đ chịu 12.197.800 đồng.

- Ông Quách Tấn T1 và ông Phan Việt T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.890.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007750 ngày 29/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ