vanban.org

Bản án 38/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Ngọc T.

Giao dịch về hụi giữa nguyên đơn bà Tống Ngọc T với bị đơn bà Lại Thị Thái Th bị hủy bỏ và không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Bà Tống Ngọc T và bà Lại Thị Thái Th phải hoàn trả tiền hụi đã nhận cho nhau. Nguyên đơn bà Tống Ngọc T phải hoàn trả cho bị đơn bà Lại Thị Thái Th số tiền hụi mà bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/DS-ST
Ngày: 20 - 9 - 2022
V/v: Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Xuân Hùng

2/ Bà Lưu Thị Phương Xa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2022, ngày 19 và 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2022/TLST– DS ngày 28 tháng 02 năm 2022, về tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-DS, 13 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2022/QĐST-DS, ngày 29 tháng 6 năm 2022, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 155/2022/QĐST-ST ngày 20 tháng 7 năm 2022, Thông báo hoãn phiên tòa số: 206/2022/TB-TA ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tống Ngọc T, sinh năm 1962, địa chỉ: ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh H (có mặt).

- Bị đơn: Bà Lại Thị Thái Th, sinh năm 1978, địa chỉ: ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Tống Ngọc T trình bày: Bà có mở (tổ chức) nhiều dây hụi, bị đơn bà Lại Thị Thái Th có tham gia hụi do bà mở, như sau:

1. Ngày 19/6/2020 âm lịch, bà mở hụi tuần với số tiền là 300.000 đồng (đ), 07 ngày khui hụi (mở hụi) một lần, dây hụi có 34 chân hụi (phần hụi), đến ngày 23/11/2020 là mãn hụi (chấm dứt dây hụi), bà Th tham gia 02 chân hụi (phần hụi). Chân hụi thứ 01, vào lần khui (kỳ mở hụi) thứ 04, bà Th hốt hụi (lĩnh hụi) được 4.500.000đ (đã trừ hoa hồng 300.000đ), bà Th tiếp tục đóng hụi (góp hụi) đến lần khui hụi thứ 22. Từ lần thứ 23 về sau thì không đóng hụi, tương đương với 12 lần không đóng x 300.000đ = 3.600.000đ; Chân hụi thứ 02, bà Th hốt hụi ở lần khui hụi thứ 16, hốt được 6.630.000đ (đã trừ hoa hồng 300.000đ), bà Th tiếp tục đóng hụi đến lần khui hụi thứ 22. Từ lần thứ 23 về sau thì không đóng hụi, tương đương với 12 lần không đóng x 300.000đ = 3.600.000đ. Số tiền kêu hụi tại các lần khui hụi (đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở hụi) bằng hình thức bốc thăm như sau: Lần 01: 50.000đ; lần 02: 150.000đ; lần 3: 160.000đ; lần 04: 170.000đ; lần 05: 190.000đ; lần 06: 150.000đ; lần 07: 170.000đ; lần 08: 185.000đ; lần 09: 160.000đ; lần 10: 150.000đ; lần 11: 150.000đ; lần 12: 155.000đ; lần 13: 155.000đ; lần 14: 165.000đ; lần 15: 160.000đ; lần 17: 150.000đ; lần 18: 160.000đ; lần 19: 150.000đ; lần 20: 100.000đ; lần 21: 155.000đ; lần 22: 160.000đ. Khui hụi lần thứ 22 xong thì tôi đình hụi. Số tiền bị đơn đã đóng hụi: Chân hụi thứ 01 là 5.940.000đ + chân hụi thứ 02 là 3.980.000đ = 9.920.000đ. Số tiền bị đơn đã hốt hụi: Chân hụi thứ 01 là 4.500.000 đồng + chân hụi thứ 02 là 6.630.000đ = 11.130.000đ. Tiền hoa hồng là 600.000đ

2. Ngày 09/6/2020 âm lịch, bà mở hụi 15 ngày, với số tiền là 1.000.000đ, 15 ngày khui hụi một lần, dây hụi có 30 chân hụi, đến ngày 24/8/2021 là mãn hụi, bà Th tham gia 02 chân hụi. Chân hụi thứ 01, bà Th hốt hụi ở lần khui hụi thứ 06, hốt được 16.500.000đ (đã trừ hoa hồng 500.000đ), bà Th tiếp tục đóng hụi đến lần khui hụi thứ 11. Từ lần thứ 12 về sau thì không đóng hụi, tương đương với 19 lần không đóng x 1.000.000đ = 19.000.000đ; Chân hụi thứ 02, bà Th hốt hụi ở lần khui hụi thứ 11, hốt được 17.860.000đ (đã trừ hoa hồng 500.000đ). Từ lần thứ 12 về sau thì không đóng hụi, tương đương với 19 lần không đóng x 1.000.000đ = 19.000.000đ. Số tiền kêu hụi tại các lần khui hụi bằng hình thức bốc thăm như sau: Lần 01: 800.000đ; lần 02: 400.000đ; lần 3: 500.000đ; lần 04: 610.000đ; lần 05: 650.000đ; lần 06: 500.000đ; lần 07: 530.000đ; lần 08: 555.000đ; lần 09: 620.000đ; lần 10: 610.000đ; lần 11: 610.000đ. Khui hụi lần thứ 11 xong thì bà đình hụi. Số tiền bị đơn đã đóng hụi: Chân hụi thứ 01 là 7.720.000đ + chân hụi thứ 02 là 4.905.000đ = 12.625.000đ. Số tiền bị đơn đã hốt hụi: Chân hụi thứ 01 là 16.500.000đ + chân hụi thứ 02 là 17.860.000đ = 34.360.000đ. Tiền hoa hồng là 1.000.000đ

3. Ngày 09/7/2020 âm lịch, bà mở hụi 10 ngày, với số tiền là 1.000.000đ, 10 ngày khui hụi một lần, dây hụi có 30 chân hụi, đến ngày 29/4/2021 là mãn hụi, bà Th tham gia 01 chân hụi, bà Th hốt hụi ở lần khui hụi thứ 13, hốt được 18.980.000đ (đã trừ hoa hồng 500.000đ), bà Th tiếp tục đóng hụi đến lần khui hụi thứ 14. Từ lần thứ 15 về sau thì không đóng hụi, tương đương với 16 lần không đóng x 1.000.000đ = 16.000.000đ. Số tiền kêu hụi tại các lần khui hụi bằng hình thức bốc thăm như sau: Lần 01: 120.000đ; lần 02: 510.000đ; lần 3: 600.000đ; lần 04: 310.000đ; lần 05: 430.000đ; lần 06: 505.000đ; lần 07: 520.000đ; lần 08: 560.000đ; lần 09: 570.000đ; lần 10: 560.000đ; lần 11: 555.000đ; lần 12: 630.000đ; lần 13: 560.000đ; lần 14: 660.000đ. Số tiền bị đơn đã đóng hụi là 7.130.000đ. Số tiền bị đơn đã hốt hụi: 18.980.000đ. Tiền hoa hồng 500.000đ

Bà đình hụi là do hụi viên không đóng tiền hụi nên dẫn đến việc bản thân bà mất khả năng thanh toán, không có tiền để trả tiền hụi cho người hốt hụi. Do đó, bà quyết định đình hụi, không khui hụi, không thu tiền hụi đối với hụi viên chưa hốt hụi nhưng vẫn thu tiền hụi chết đối với những người đã hốt hụi để trả cho người chưa hốt hụi. Bà tuyên bố đình hụi của tất cả các dây hụi cùng một ngày (sau khi khui hụi xong), có mặt tất cả các hụi viên tham gia nhưng do đã lâu nên bà không nhớ ngày tuyên bố đình hụi. Bà có mở sổ hụi đối với tất cả các dây hụi, sổ hụi do bà giữ, khi hốt hụi các hụi viên có ký nhận còn thu tiền hụi thì không có ký nhận. Tổng cộng bà Th còn nợ tiền hụi chưa đóng là 61.200.000đ. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà Th phải trả lại tiền hụi chưa đóng cho bà là 61.200.000đ

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lại Thị Thái Th trình bày: Bà với bà Tống Ngọc T có quen biết nhau. Vào khoảng tháng 6/2020, bà có tham gia vào 03 dây hụi do bà T mở, như sau:

1. Dây hụi 300.000 đồng, 07 ngày khui 01 lần, có 34 chân hụi, bà tham gia 02 chân hụi. Chân hụi thứ 01 bà đã hốt hụi ở lần khui thứ 04. Chân hụi thứ 02 bà đã hốt ở lần khui thứ 16. Mỗi lần hốt hụi trừ hoa hồng 300.000 đồng. Bà thống nhất số tiền hốt hụi và số tiền kêu hụi đến lần thứ 16, những lần kêu hụi sau đó thì bà không nhớ số tiền kêu hụi. Nhưng bà khẳng định đã đóng tiền hụi xong lần thứ 23 thì bà mới biết việc bà T đã bể hụi (đình hụi/chấm dứt dây hụi) từ lần khui hụi thứ 22 nên bà không đồng ý tiếp tục đóng tiền hụi mà yêu cầu bà T phải thoả thuận chốt tiền hụi hoặc các bên trả lại tiền hụi cho nhau nhưng nguyên đơn không đồng ý, nguyên đơn buộc bà phải đóng tiếp tiền hụi trong khi không giao tiền hụi cho người hốt hụi nên mới xảy ra tranh chấp.

2. Dây hụi 1.000.000đ, 15 ngày khui 01 lần, có 30 chân hụi, bà tham gia 02 chân hụi. Chân hụi thứ 01 bà đã hốt hụi ở lần khui hụi thứ 06. Chân hụi thứ 02 bà đã hốt hụi ở lần khụi hụi thứ 12 nhưng do bà T buộc bà hốt hụi để cấn trừ nợ. Mỗi lần hốt hụi trừ hoa hồng 500.000 đồng. Bà đã đóng tiền hụi xong lần khui hụi thứ 13 thì không đồng ý đóng tiếp do phát hiện bà T bể hụi.

3. Dây hụi 1.000.000đ, 10 ngày khui 01 lần, có 30 chân hụi, bà tham gia 02 chân hụi. Đến lần khui hụi thứ 14 thì bà T buộc bà hốt 01 chân hụi để cấn trừ nợ, khi hốt hụi trừ hoa hồng 500.000đ. Bà còn 01 chân hụi sống đến nay chưa hốt hụi (hụi chưa lĩnh) do bà phát hiện bà T bể hụi nên bà yêu cầu bà T thoả thuận rõ ràng và trả lại tiền chân hụi chưa hốt này nhưng bà T không đồng ý. Bà đóng xong tiền hụi đến lần khui hụi thứ 15 thì mới hay bà T đã bể hụi ở lần khui thứ 14 nên bà không tiếp tục đóng hụi.

Bà không hay biết việc bà T đình hụi. Khi bà T đến nhà bà T tiền hụi vẫn không cho bà biết việc đình hụi nên bà đã đóng thêm một lần hụi sau khi bà T bể hụi. Khi bà được các hụi viên khác cho hay việc bà T bể hụi thì bà ngưng đóng hụi chết và hụi sống cho đến nay. Việc bà T đến nhà bà T tiền hụi không có ai khác chứng kiến, tất cả các lần bà đóng tiền hụi đều không lập biên nhận đóng hụi, bà T nói số tiền kêu hụi thì bà tự ghi vào sổ của bà, bà T tự ghi vào sổ cái (sổ chính), hai bên không ai ký nhận. Đối với 05 lần bà hốt hụi thì bà T có kêu bà ký vào biên nhận nên bà có ký nhận số tiền hốt hụi. Khi mở hụi bà T cam kết trong vòng 03 ngày sau mỗi lần khui hụi sẽ gom tiền hụi và giao tiền hụi đầy đủ. Nguyên nhân bà T bể hụi thì bà không rõ, bà đã đóng hụi đầy đủ cho bà T nên việc bà T bể hụi không có lỗi của bà. Do bà T cho rằng các hụi viên không đóng tiền hụi dẫn đến việc bà không có tiền để giao tiền hụi cho người hốt hụi nên bà mới đình hụi, đây là lỗi của bà T vì theo thỏa thuận thì bà phải có nghĩa vụ tràn hụi (đóng thay) cho những người chưa đóng và có quyền đòi lại tiền hụi chưa đóng và lãi chậm đóng. Trong khi đó, bà vẫn còn 01 chân hụi sống chưa hốt nhưng bà T không đồng ý giao trả tiền hụi. Do bà T đã bể hụi nên bà đề nghị huỷ bỏ các chân hụi đã tham gia của bà T, bà sẽ trả lại bà T tiền hốt hụi, bà T trả lại bà tiền hụi đã đóng, tiền hoa hồng của các dây hụi bà không yêu cầu. Đối với chân hụi chưa hốt thì do những lần Tòa án mời bà không tham gia nên hiện tại đã qua thời hạn được yêu cầu giải quyết nên bà sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác nếu bà với bà T không thỏa thuận được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng pháp luật; Về ý thức chấp hành pháp luật của đương sự là đúng pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bỏ hợp đồng về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn, các bên trả cho nhau những gì đã nhận. Về án phí buộc đương sự chịu theo quy định pháp luật

- Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không có.

Vấn đề các đương sự thỏa thuận được:

Bị đơn có tham gia hụi do nguyên đơn mở. Bị đơn đã ký nhận vào 05 biên nhận hốt hụi do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án của 05 chân hụi/03 dây hụi đã tham gia bao gồm: Biên nhận hốt hụi ngày 11/7/2020 âm lịch số tiền hốt hụi 4.500.000đ của hụi tuần (hụi 07 ngày); biên nhận hốt hụi ngày 07/10/2020 số tiền hốt hụi 6.630.000đ của hụi tuần; biên nhận hốt hụi ngày 24/8/2020 số tiền hốt hụi 16.500.000đ của hụi 15 ngày; biên nhận hốt hụi ngày 09/11/2020 số tiền hốt hụi 17.860.000đ của hụi 15 ngày; biên nhận hốt hụi ngày 09/11/2020 số tiền hốt hụi 18.980.000đ của hụi 10 ngày.

Hụi 300.000đ/tuần, thống nhất mở ngày 09/6/2020 âm lịch, bị đơn tham gia 02 chân, chân thứ 01 hốt hụi ở lần thứ 04 được số tiền 4.500.000đ (đã trừ hoa hồng 300.000đ), chân thứ 02 hốt hụi ở lần thứ 16 được số tiền 6.630.000đ, thống nhất số tiền đóng đến lần thứ 22.

Hụi 1.000.000đ/15 ngày, thống nhất mở ngày 09/6/2020 âm lịch, bị đơn tham gia 02 chân, chân thứ 01 hốt hụi ở lần thứ 06 được số tiền 16.500.000đ (đã trừ hoa hồng 500.000đ), chân thứ 02 đã hốt hụi (khi nhận tiền đã trừ hoa hồng 500.000đ), thống nhất số tiền đóng hụi đến lần 11.

Hụi 1.000.000đ/10 ngày, thống nhất mở ngày 09/7/2020 âm lịch, bị đơn đã hốt hụi (khi nhận tiền đã trừ hoa hồng 500.000đ), thống nhất số tiền đóng hụi đến lần 14.

Vấn đề các đương sự không thỏa thuận được:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi chết chưa đóng là 62.000.000đ; Bị đơn yêu cầu hủy bỏ giao dịch về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn, các bên trả cho nhau những gì đã nhận.

Hụi 300.000đ/tuần: Nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền của bị đơn 22 lần; Bị đơn khai đã đóng hụi 23 lần.

Hụi 1.000.000đ/15 ngày: Nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền hụi của bị đơn 11 lần, chân hụi thứ 02 bị đơn hốt hụi ở lần thứ 11; bị đơn khai đã đóng hụi 13 lần và hốt hụi chân thứ 02 ở lần khui hụi thứ 12.

Hụi 1.000.000đ/10 ngày: Nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền hụi của bị đơn 14 lần, bị đơn tham gia 01 chân hụi và đã hốt hụi ở lần khui thứ 13; bị đơn khai đã đóng hụi 15 lần, bị đơn tham gia 02 chân, đã hốt hụi 01 chân ở lần khui thứ 15 và còn 01 chân hụi sống chưa hốt hụi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Áp dụng pháp luật về tố tụng:

Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật: Vào năm 2020, giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận tổ chức và tham gia 03 dây hụi, trong quá trình thực hiện các dây hụi đã phát sinh tranh chấp, nên nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả tiền hụi chưa đóng; bị đơn cư trú tại ấp 5, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về hụi” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục xét xử: Bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mới có mặt. Tại phiên tòa, các đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nhưng đến khi tuyên án thì bị đơn vắng mặt. Căn cứ Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án.

Áp dụng pháp luật về nội dung: Giao dịch về hụi giữa các bên được thỏa thuận xác lập vào năm 2020, nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp.

Về nội dung khởi kiện:

Nguyên đơn có mở dây hụi 300.000đ/ tuần vào ngày 09/6/2020 âm lịch, dây hụi 1.000.000đ/15 ngày vào ngày 09/6/2020 âm lịch, dây hụi 1.000.000đ/10 ngày vào ngày 09/7/2020 âm lịch. Hụi 07 ngày và hụi 15 ngày bị đơn tham gia 02 chân, hụi 10 ngày bị đơn tham gia 01 chân. Bị đơn đã hốt cả 05 chân hụi và nợ lại tiền hụi chết chưa đóng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi chưa đóng là 61.200.000đ. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, phía nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án 05 biên nhận hốt hụi gồm: Biên nhận ngày 11/7/2020 âm lịch số tiền hốt hụi tuần chân 01 là 4.500.000đ; biên nhận ngày 07/10/2020 số tiền hốt hụi tuần chân 02 là 6.630.000đ; biên nhận ngày 24/8/2020 số tiền hốt hụi 15 ngày chân 01 là 16.500.000đ; biên nhận ngày 09/11/2020 số tiền hốt hụi 15 ngày chân 02 là 17.860.000đ; biên nhận ngày 09/11/2020 số tiền hốt hụi 10 ngày là 18.980.000đ.

Phía bị đơn thừa nhận có tham gia vào 03 dây hụi như nguyên đơn trình bày nhưng mỗi dây tham gia 02 chân và đã ký nhận vào 05 biên nhận hốt 05 chân hụi như nguyên đơn cung cấp với số tiền hốt hụi là 64.390.000đ. Do nguyên đơn tự ý đình hụi nên bị đơn yêu cầu hủy bỏ các dây hụi mà bị đơn đã tham gia của nguyên đơn, bị đơn đồng ý trả lại tiền hốt hụi đã nhận từ nguyên đơn và yêu cầu nguyên đơn trả lại bị đơn tiền hụi đã đóng.

[3.3] Mặc dù 05 “Biên nhận” nhận tiền hốt hụi có hình thức và nội dung chưa đảm bảo quy định, sự thỏa thuận về tổ chức hụi, tham gia hụi cũng chưa phù hợp quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, nhưng giao dịch về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật. Việc tổ chức hụi của nguyên đơn không đảm bảo quy định pháp luật về hụi, sổ hụi, giấy biên nhận và thông báo về tổ chức hụi đều vi phạm quy định tại các Điều 12, 13, 14 của Nghị định số19/2019/NĐ-CP. Nguyên đơn cho rằng do một số hụi viên không đóng tiền hụi nên dẫn đến việc nguyên đơn không giao tiền hụi cho người hốt hụi nên nguyên đơn mới tuyên bố đình 03 dây hụi. Theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP thì nghĩa vụ đóng thay tiền hụi cho các hụi viên chưa đóng là của chủ hụi. Sau khi đóng thay tiền hụi cho các hụi viên chưa đóng, chủ hụi có quyền đòi lại phần tiền hụi đã đóng thay và lãi suất theo quy định. Tự quyết định chấm dứt dây hụi mà không có sự thống nhất của hụi viên là vi phạm quy định tại Điều 11 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định về hụi. Giao dịch về hụi không thể tiếp tục thực hiện do chủ hụi mất khả năng thanh toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận ban đầu, mọi thay đổi chấm dứt về sau bị đơn cũng không đồng ý và bị đơn cũng yêu cầu hủy bỏ các giao dịch thỏa thuận về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn, các bên có trách nhiệm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là phù hợp quy định tại Điều 425, 427 của Bộ luật Dân sự. Do đó cần thiết hủy bỏ giao dịch về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn, sự thỏa thuận về hụi tại dây hụi 300.000đ/07 ngày mở ngày 09/6/2020 âm lịch, dây hụi 1.000.000đ/15 ngày mở ngày 09/6/2020 âm lịch, dây hụi 1.000.000đ/10 ngày mở ngày 09/7/2020 âm lịch không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Về số tiền hụi thực tế các bên đã nhận:

Bị đơn đã nhận của nguyên đơn số tiền hụi là 64.390.000đ.

Về số tiền hụi mà bị đơn thực tế đã đóng cho nguyên đơn như sau:

Dây hụi 300.000đ/tuần: Phía nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền của bị đơn 22 lần (nhằm ngày 10/11/2020 âm lịch) thì tuyên bố đình hụi. Phía bị đơn khai đã đóng hụi 23 lần (nhằm ngày 17/11/2020 âm lịch).

Dây hụi 1.000.000đ/15 ngày: Nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền hụi của bị đơn 11 lần (nhằm ngày 09/11/2020 âm lịch), chân hụi thứ 02 bị đơn hốt hụi ở lần thứ 11 xong thì tuyên bố đình hụi. Bị đơn khai đã đóng hụi 13 lần (nhằm ngày 09/12/2020 âm lịch) và hốt hụi chân thứ 02 ở lần khui hụi thứ 12 (nhằm ngày 24/11/2020 âm lịch).

Dây hụi 1.000.000đ/10 ngày: Nguyên đơn khai đã khui hụi và thu tiền hụi của bị đơn 14 lần (nhằm ngày 19/11/2020 âm lịch) thì tuyên bố đình hụi, bị đơn tham gia 01 chân hụi và đã hốt hụi ở lần khui thứ 13; bị đơn khai đã đóng hụi 15 lần (nhằm ngày 29/11/2020 âm lịch), bị đơn tham gia 02 chân, đã hốt hụi 01 chân ở lần khui thứ 15 và còn 01 chân hụi sống chưa hốt hụi.

Phía nguyên đơn khai cả 03 dây hụi cùng đình hụi vào cùng một ngày sau khi khui hui hụi xong, phía bị đơn cho rằng sau khi hay nguyên đơn bể hụi thì tiếp tục đóng thêm 01 lần hụi nữa mới ngưng đóng nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không nhớ thời gian chính xác cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày nên phải chịu hậu quả của việc không thể chứng minh. Do đó, căn cứ vào biên nhận nhận tiền hụi sau cùng là ngày 09/11/2020 âm lịch, dựa vào lời khai của nguyên đơn ở 03 dây hụi thì ngày cuối cùng khui hụi là ngày 19/11/2020 âm lịch. Nên xác định thời gian ngưng khui hụi là ngày 19/11/2020 âm lịch. Do đó xác định tiền hụi mà bị đơn đã đóng cho nguyên đơn như sau: Dây hụi 300.000đ/tuần, bị đơn đóng hụi 23 lần tương đương 6.240.000đ + 4.280.000đ = 10.520.000đ; Dây hụi 1.000.000đ/15 ngày, bị đơn đóng hụi 11 lần tương đương 7.720.000đ + 4.905.000đ = 12.625.000đ; Dây hụi 1.000.000đ/10 ngày, bị đơn đóng hụi 14 lần tương đương 7.130.000đ. Tổng cộng số tiền hụi bị đơn đóng cho nguyên đơn là 30.275.000đ.

Khi giao dịch về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn bị hủy bỏ thì các giao dịch về hụi giữa nguyên đơn và bị đơn không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí hợp lý trong việc thực hiện giao dịch về hụi. Do đó số tiền hoa hồng 2.100.000đ là chi phí hợp lý trong việc thực hiện giao dịch về hụi nên nguyên đơn không phải trả lại cho bị đơn. Số tiền hụi các bên phải hoàn trả cho nhau là số tiền thực tế đã nhận nên nguyên đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho bị đơn là 30.275.000đ, bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn là 64.390.000đ.

Về bồi thường thiệt hại: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét.

Bị đơn trình bày còn chân chân hụi sống chưa hốt ở dây hụi 1.000.000đ/10 ngày, do đương sự không có yêu cầu nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét đơn đề nghị miễn giảm án phí của nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định của pháp luật nên đối với phần yêu cầu không được chấp nhận được miễn án phí; Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền hốt hụi cho nguyên đơn nên phải chịu án phí đối với phần nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 3, 5, 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 267 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 118, 119, 471, 425, 427, Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 3, 11, 12, 13, 18, 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tống Ngọc T.

Giao dịch về hụi giữa nguyên đơn bà Tống Ngọc T với bị đơn bà Lại Thị Thái Th bị hủy bỏ và không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Bà Tống Ngọc T và bà Lại Thị Thái Th phải hoàn trả tiền hụi đã nhận cho nhau.

Cụ thể:

Nguyên đơn bà Tống Ngọc T phải hoàn trả cho bị đơn bà Lại Thị Thái Th số tiền hụi mà bị đơn đã đóng hụi cho nguyên đơn là 30.275.000đ (ba mươi triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Bị đơn bà Lại Thị Thái Th phải hoàn trả cho nguyên đơn bà Tống Ngọc T số tiền hốt hụi mà bị đơn đã nhận của nguyên đơn là 64.390.000đ (sáu mươi bốn triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Tống Ngọc T thuộc trường hợp được miễn án phí nên nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.530.000 đồng (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002702, ngày 28/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn bà Lại Thị Thái Th phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.219.500đ (ba triệu hai trăm mười chín nghìn năm trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ