- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/HSST Ngày 12 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2021/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Đ, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1982; tại: PY, TN; Nơi cư trú: Xóm AB, xã TC, thị xã PY, TN.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Hồ Bắc (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thông, sinh năm 1956; Có vợ là Lê Thị Hà, sinh năm 1984 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án: không; Tiền sự: 02:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0003471/QĐ – XPHC ngày 12/7/2019 của Công an thị xã Phổ Yên, xử phạt Phạm Văn Đ số tiền 4.250.000đ về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (hiện Phạm Văn Đ chưa nộp tiền phạt).
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009034/QĐ – XPHC ngày 31/8/2020 của Công an thành phố SC, xử phạt Phạm Văn Đ số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (hiện Phạm Văn Đ chưa nộp tiền phạt)
Bị cáo tạm giữ từ ngày 15/12/2020, tạm giam từ ngày 24/12/2020 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố YT, phường BH thị xã PY, tỉnh TN.
2. Anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm ST, xã ĐC, thị xã PY, tỉnhTN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2020, Tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực bên phải hành lang đường quốc lộ 3 cũ theo hướng Thái Nguyên – Hà Nội có đối tượng nam giới có biểu hiện liên quan đến ma túy. Khi đến nơi tiến hành kiểm tra, đối tượng nam giới có đặc điểm như tin báo khai nhận tên là Phạm Văn Đ, sinh năm 1982; Trú tại: Xóm AB, xã TC, thị xã PY, TN đồng thời tự lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người 01 gói giấy có nhiều chữ viết, bên trong có chứa chất bột mầu trắng đục (Đ khai là ma túy loại Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng thu giữ của Đ đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên để xử lý theo quy định.
Hồi 20 giờ 35 phút, ngày 15/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên đã phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng gói chất bột mầu trắng thu giữ của Phạm Văn Đ, xác định có khối lượng là 0,117 gam, đồng thời lấy toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên niêm phong trong phong bì kí hiệu H trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành giám định.
Tại bản kết luận giám định số 30/KL-KTHS ngày 23/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng đục trong phong bì kí hiệu H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,117 gam”.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn Đ khai nhận: Do bản thân là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng hơn 09 giờ ngày 15/12/2020, Đ đi nhờ xe của người đi đường xuống khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi Đ vào một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín nằm phía bên tay trái hành lang đường quốc lộ 3 cũ theo hướng Thái Nguyên – Hà Nội đưa số tiền 100.000đ qua lỗ nhỏ sát với nền bê tông vào bên trong, thì có người cầm tiền rồi đưa cho Điệp 01 gói ma túy được gói bằng giấy có nhiều chữ viết. Sau khi mua được ma túy, Đ cho vào túi áo khoác đang mặc rồi đi bộ sang phía hành lang đường đối diện để về thì bị lực lượng Công an thị xã Phổ Yên kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSPY, ngày 19/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 19/CT-VKSPY, ngày 19/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu “H”, bên trong chứa 0,107 gam heroine hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “F1” lưu vỏ bao mẫu;
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo mong HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Hoàng D và anh Vũ Ngọc Q trình bày: Khoảng 11 giờ 40, ngày 15/12/2020 khi đi qua khu vực hành lang đường Quốc lộ 3 cũ, thuộc địa phận xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên thì được Tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này nói tên là Phạm Văn Đ, đồng thời tự lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người ra 01 giấy có nhiều chữ viết, bên trong chứa chất bột mầu trắng đục, Điệp khai là ma túy loại Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng trên và đưa Đ về cơ quan công an giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Đ tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2020, tại phía bên phải hành lang đường quốc lộ 3 cũ (hướng Thái Nguyên – Hà Nội) thuộc địa phận xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Phạm Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,117 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Điệp khai là mua của một người (không rõ nam hay nữ) tại một ngôi nhà có cửa xếp bằng sắt, nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ (hướng Thái Nguyên
- Hà Nội) thuộc địa phận xóm Kim Tỉnh, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,117 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 19/VKSPY ngày 19/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine …., có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu rèn luyện, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại: Xóm An Bình, xã Thành Công, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 5/12, sau khi nghỉ học ở nhà lao động tự do. Do không chịu lao động tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy. Quá trình hoạt động của bản thân: Ngày 12/7/2019 bị Công an thị xã Phổ Yên, xử phạt hành chính số tiền 4.250.000đ về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Ngày 31/8/2020 bị Công an thành phố Sông Công, xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” – Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Phạm Văn Đ, nhà ở gần hành lang đường Quốc lộ 3 cũ, nhưng do Điệp không xác định được chủ ngôi nhà và người bán ma túy, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[8]. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “H”, bên trong chứa 0,107 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “F1” lưu vỏ bao mẫu - Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “H”, bên trong chứa 0,107 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong, ký hiệu “F1” lưu vỏ bao mẫu
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên, ngày 19/01/2021)
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thị xã Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thị xã Phổ Yên; - Chi cục THADS thị xã Phổ Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Hồng Hải Nguyễn Thị Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cần |