vanban.org

Bản án 38/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 20/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình H 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HS-ST
Ngày 20/8/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Một.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Phan Văn H.

+ Ông Lưu Văn Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hải Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 09/8/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình H- Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Q; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 8, thôn Tú Ngọc A, xã B, huyện T, tỉnh Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông: Nguyễn Đình S - Sinh năm 1973 và bà Võ Thị B - Sinh năm 1973; Bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 02/11/2020 bị Công an xã B, huyện T, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Võ Đức T - Sinh năm 1988. Vắng mặt.

2. Phan Thị L - Sinh năm 1984. Vắng mặt.

3. Nguyễn Đình Th - Sinh năm 1986. Vắng mặt.

4. Võ Thị Mỹ Tr – Sinh năm 1981. Vắng mặt. Cùng trú tại: Thôn Tú Ngọc A, xã B, huyện T, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, tại nhà bà Võ Thị Mỹ Tr, bà Tr cho Nguyễn Đình H, Võ Đức T, Phan Thị L, Nguyễn Đình Th cùng trú thôn Tú Ngọc A, xã B, huyện T, tỉnh Q đánh bạc dưới hình thức bài phỏm ăn thua bằng tiền và có thu tiền xâu những người đánh bạc số tiền 30.000 đồng. Đến 15 giờ 20 phút ngày 14/3/2021, Công an xã B, huyện T phát hiện lập biên bản sự việc vi phạm về hành vi đánh bạc, tạm giữ số tiền: 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm ngàn đồng).

Quá trình điều tra đã xác định được hành vi đánh bạc như sau:

- Nguyễn Đình H: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, H mang theo số tiền khoảng 900.000 đồng đi bộ sang nhà bà Võ Thị Mỹ Tr đánh bài phỏm ăn thua tiền cùng Võ Đức T, Phan Thị L, Nguyễn Đình Th, H thắng được số tiền 320.000 đồng.

- Nguyễn Đình Th: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, Th đi sang nhà bà Võ Thị Mỹ Tr đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền cùng với Võ Đức T, Phan Thị L, Nguyễn Đình H, Th mang theo khoảng 300.000 đồng để đánh bạc, đánh thua hết 80.000 đồng.

- Võ Đức T: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, T đi sang bà Võ Thị Mỹ Tr đánh bài phỏm ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Đình H, Phan Thị L, Nguyễn Đình Th. T mang theo 860.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng là tiền không dùng để đánh bạc), lấy trong túi ra 360.000 đồng để đánh bạc. T đánh thua hết 160.000 đồng.

- Phan Thị L: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, L đi sang nhà bà Võ Thị Mỹ Tr đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền cùng Võ Đức T, Nguyễn Đình Th, Nguyễn Đình H. L mang theo 500.000 đồng đánh bạc, L đánh thắng được số tiền 210.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSTB-HS ngày 30/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Q đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ L hình sự.

* Tại phiên toà Nguyễn Đình H khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021, H mang theo số tiền khoảng 900.000 đồng đi bộ sang nhà bà Võ Thị Mỹ Tr đánh bài phỏm ăn thua tiền cùng T, L, Th, H thắng được số tiền 320.000 đồng.

* Tại hồ sơ vụ án những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có lời khai giống như cáo trạng truy tố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về nhân thân: Ngày 02/11/2020 bị Công an xã B, huyện T, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ L hình sự, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ L hình sự cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: “Đánh bạc”; đề nghị xử phạt bị cáo mức phạt tiền từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

* Những vấn đề liên quan đến vụ án:

- Đối với hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền của Nguyễn Đình Th, Võ Đức T, Phan Thị L với số tiền 2.730.000 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng trước đó chưa bị xử phạt hành chính và bị kết án về tội đánh bạc tại Điều 321 và Điều 322. Do vậy, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng pháp L.

- Đối hành vi bà Võ Thị Mỹ Tr đồng ý cho Nguyễn Đình H, Võ Đức T, Phan Thị L và Nguyễn Đình Th đánh bạc tại nhà của mình và có thu số tiền 30.000 đồng nhưng trước đó chưa bị xử phạt hành chính và bị kết án về tội đánh bạc tại Điều 321 và Điều 322. Cơ quan Công an huyện đề nghị Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Dùng chỗ ở để chứa bạc” là đúng pháp luật.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 BLTTHS 2015 tuyên:

+ Tịch thu sung công quỹ số tiền: 2.370.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc;

+ Truy thu số tiền: 30.000 (Ba mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính của bà Võ Thị Mỹ Tr;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) cái mền màu đỏ vàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Các căn cứ xem xét, đánh giá về tội danh và khung hình phạt:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo có trong hồ sơ và tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2021 Nguyễn Đình H (là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc), Võ Đức T, Phan Thị L và Nguyễn Đình Th cùng nhau đánh bạc dưới hình thức bài phỏm thắng thua bằng tiền tại nhà của bà Tr và bà Tr thu tiền xâu 30.000 đồng. Số tiền đánh bạc gồm có: H số tiền 1.220.000 đồng, Th số tiền: 220.000 đồng, T số tiền: 200.000 đồng và L số tiền: 710.000 đồng, thu giữ tại tại chiếu bạc: 20.000 đồng và bà Tr có thu tiền xâu 30.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Mặc dù số tiền H dùng vào việc đánh bạc cùng với những người khác chưa đủ 5.000.000 đồng nhưng ngày 02/11/2020 H bị Công an xã B, huyện T, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc” nên hành vi của H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc"; do đó cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức được việc đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính cũng về hành vi "Đánh bạc" nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại phạm tội, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tuy nhiên bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, hoàn cảnh gia đình có khó khăn; bị cáo tỏ rõ ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung công quỹ số tiền: 2.370.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc;

+ Truy thu số tiền: 30.000 (Ba mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính của bà Võ Thị Mỹ Tr;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) cái mền màu đỏ vàng.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: “Đánh bạc”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình H 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên:

+ Tịch thu sung công quỹ số tiền: 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); bao gồm 2.370.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) bị cáo và những người khác dùng để đánh bạc và 30.000 (Ba mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính của bà Võ Thị Mỹ Tr.

Số tiền này hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai thu số 0001457 ngày 12/8/2021.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây gồm 52 (năm mươi hai) lá và 01 (một) cái mền màu đỏ vàng.

Vật chứng này hiện nay đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2021.

- Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng y) án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ