- Tranh chấp gì? án hình sự — "tram thanh dien - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trầm Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 38/2021/HSST Ngày: 25/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Tuấn Kiệt
2. Bà Đào Đắc Cẩm Tú
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trầm Minh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 08 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trầm Thanh Đ.; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: T.; Sinh ngày: 12 tháng 10 năm 1992 tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không; Nơi đăng ký thường trú: Số 54, đường Quốc lộ 1A, ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; Họ và tên cha: Trầm Thanh Ph., sinh năm 1959 (đã chết); Họ và tên mẹ: Triệu Thị S., sinh năm 1959; Anh, chị, em ruột: có 05 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Kim Chi, sinh năm 2002; Con: có 02 người, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự: không; Tiền án: Có một tiền án nhưng đã xoá án tích; Bị cáo Trầm Thanh Đ. bị tạm giữ từ ngày 28 tháng 4 năm 2021, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Sơn Đăng Kh., sinh năm 1999; (vắng mặt)
Nơi ĐKTT: ấp C. gi. 1, xã Th. Đ. huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Lâm Phước V., sinh năm 1995; (vắng mặt)
Nơi ĐKTT: ấp T. Ph. xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Trần Thanh Nh., sinh năm 1998; (vắng mặt)
Nơi ĐKTT: ấp Đ.i Th., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Sơn Minh S., sinh năm 2003; (vắng mặt)
Nơi ĐKTT: ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Vào lúc 19 giờ 50 ngày 28/4/2021 Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Sóc Trăng kết hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên tiến hành kiểm tra tại nhà số 54 đường Quốc lộ 1A thuộc ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên, kết quả phát hiện đối tượng Trầm Thanh Đ. (sinh năm 1992, thường trú: số 54, đường Quốc lộ 1A, ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên) vừa có hành vi bán 01 bịch nylon không màu được hàn kín đựng tinh thể rắn màu trắng nghi vấn là ma túy cho Sơn Đăng Kh. (sinh năm 1999, thường trú: ấp Cần Giờ 1, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) ngay tại khu vực trước cửa nhà nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ. và Kh. đồng thời niêm phong bịch nylon đựng tinh thể rắn màu trắng (Gói 1) gửi giám định. Tiến hành khám xét căn nhà số 54 ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên là nơi ở của Đ. thì tiếp tục phát hiện tại khu vực nhà bếp có 01 hộp bằng kim loại bên trong có chứa 17 bịch nylon không màu được hàn kín có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi vấn là ma túy (Gói 2) và phát hiện trên tủ gỗ trong phòng thứ 4 từ ngoài cửa vào (đối diện nhà vệ sinh) có 01 bịch zip màu đen bên trong có 01 bịch nylon không màu được hàn kín đựng tinh thể rắn màu trắng nghi vấn là ma túy (Gói 3), ngoài ra còn phát hiện một số dụng cụ liên quan đến việc mua bán, sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, kéo, bịch nylon, cân điện tử nên đã thu giữ toàn bộ đồng thời niêm phong các chất tinh thể rắn màu trắng nghi vấn để gửi giám định.
Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên tiến hành trưng cầu giám định 03 gói có chứa tinh thể màu trắng thu giữ được để xác định thành phần ma tuý và khối lượng ma tuý đối với 03 gói có chứa trong tinh thể màu trắng. Tại Bản kết luận giám định số 54/GĐMT-PC09 ngày 04/5/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận: Gói 1: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0332 gam, loại Methamphetamine; Gói 2: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,3777 gam, loại Methamphetamine; Gói 3: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1005 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy loại Methamphetamine trong 03 gói trên qua giám định là 4,5114 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trầm Thanh Đ. khai nhận: Bản thân bắt đầu sử dụng ma túy đá từ năm 2017 cho đến nay, do không có nghề nghiệp ổn định nên vào khoảng 17 giờ ngày 28/4/2021 Đ. dùng điện thoại hiệu Vsmart, bên trong gắn sim số 0888.515.073 của mình gọi cho số điện thoại 0915403720 của một người phụ nữ tên Hương (Đ. không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể và chưa từng gặp mặt, chỉ biết số điện thoại do được những người quen sử dụng ma túy chung cho và Đ. đã liên hệ để mua ma túy của Hương để sử dụng cá nhân được một số lần trước đó), để hỏi mua ma túy với giá 3.000.000 đồng thì người này đồng ý bán và hẹn Đ. đến khu vực gần khán đài đua ghe Ngo ở phường 8, thành phố Sóc Trăng để lấy ma túy. Khi đến nơi Đ. điện thoại cho Hương thì có một người thanh niên lạ mặt đến đưa bịch nylon đựng ma túy đá cho Đ. và nhận tiền rồi bỏ đi. Có được ma túy Đ. đem về nhà mình ở số 54 đường Quốc lộ 1A thuộc ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên rồi phân chia nhỏ bịch ma túy vừa mua ra thành nhiều bịch ma túy nhỏ hơn để bán lại với giá mỗi bịch là 150.000 đồng, 200.000 đồng và 300.000 đồng tùy số lượng ma túy trong bịch nhiều hay ít.
Trầm Thanh Đ. thừa nhận số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét là của Đ. cất giấu để bán lại cho người khác. Để bán ma túy Đ. điện thoại cho một số người quen là người nghiện ma túy và nói cho họ biết Đ. có bán ma túy đá, nếu ai cần thì đến nhà Đ. để mua. Tính đến thời điểm bắt quả tang thì trong ngày 28/4/2021 Đ. đã bán ma túy được 03 lần cho những người nghiện tại nhà của mình cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Sau khi Đ. điện thoại rủ mua ma túy xong thì sau đó một lúc có Trần Thanh Nh. (tên thường gọi Nhã Cụt, sinh năm 1998, thường trú: ấp Đại Thành, xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên) đến nhà hỏi mua bịch ma túy đá giá 300.000 đồng thì Đ. đồng ý bán và nhận tiền rồi đưa ma túy cho Nhã. Mua được ma túy xong Nhã đem về sử dụng cùng Sơn Minh S. (sinh năm 2003, thường trú: ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên) và một người tên Nhí (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) do Nhí và Sơn có hùn 200.000 đồng đưa cho Nhã đi mua ma túy về sử dụng. Lần thứ hai: Sau khi bán cho Nhã xong thì sau đó một lúc có một người thanh niên tên thường gọi là Khải Hoàng đến nhà hỏi mua bịch ma túy đá giá 150.000 đồng thì Đ. đồng ý bán và nhận tiền rồi đưa ma túy cho Khải Hoàng. Lần thứ ba: đến khoảng 19 giờ 45 cùng ngày thì có Lâm Phước V. (sinh năm 1995, thường trú: ấp Tâm Phước, xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên) điện thoại cho Đ. hỏi mua bịch ma túy đá giá 200.000 đồng thì Đ. đồng ý bán. Khoảng 05 phút sau bạn của Vĩnh là Sơn Đăng Kh. (sinh năm 1999, thường trú: ấp Cần Giờ 1, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên) đến gặp Đ. nói là lấy ma túy giùm cho Vĩnh, ngay sau khi Đ. vừa nhận tiền và đưa ma túy cho Kh. xong thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Về vật chứng trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên đã thu giữ, gồm: 03 gói niêm phong chất ma túy hoàn lại sau khi giám định được đựng trong 03 phong bì màu trắng, có viền sọc màu xanh - đỏ, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 54/GĐMT-PC09, ngày 04 tháng 5 năm 2021”; 01 hộp bằng kim loại màu xanh-bạc, kích thước (10 x 6)cm; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 09 cm được hàn kín một đầu, một đầu được véc nhọn; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 09 cm; 01 bịch nylon không màu loại bịch Zip chỉ đỏ; 01 bình thủy tinh có nắp bằng nhựa màu đỏ được gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đen kích thước (16 x 13)cm, bên trong có chứa: 01 cân điện tử màu đen có gắn 02 viên pin và 50 bịch nylon không màu chưa qua sử dụng; 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, có viền sọc xanh-đỏ, bên ngoài được ký hiệu “ĐT”, bên trong đựng 01 điện thoại di động hiệu Vsmart loại màn hình cảm ứng màu đen, kiểu máy Star 4, bên trong có gắn sim số 0888515073; Tiền Việt Nam là 1.438.000đ (một triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra Sơn Đăng Kh., Lâm Phước V., Trần Thanh Nh. và Sơn Minh S. đã thừa nhận có mua ma túy của Trầm Thanh Đ. tại nhà của Đ. ở số 54 đường Quốc lộ 1A thuộc ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên vào ngày 28/4/2021 với mục đích mua về để sử dụng, trong đó Nhã là người trực tiếp mua đem về sử dụng cùng với Sơn còn Kh. là người trực tiếp mua định đem về cùng sử dụng với Vĩnh nhưng chưa kịp về sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trầm Thanh Đ. theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trầm Thanh Đ. phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trầm Thanh Đ., xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/4/2021.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để: Tịch thu tiêu hủy 03 gói niêm phong chất ma túy hoàn lại sau khi giám định được đựng trong 03 phong bì màu trắng, có viền sọc màu xanh - đỏ, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 54/GĐMT-PC09, ngày 04 tháng 5 năm 2021”; 01 hộp bằng kim loại màu xanh - bạc, kích thước (10 x 6)cm; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 09 cm được hàn kín một đầu, một đầu được véc nhọn; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 09 cm; 01 bịch nylon không màu loại bịch Zip chỉ đỏ; 01 bình thủy tinh có nắp bằng nhựa màu đỏ được gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đen kích thước (16 x 13) cm; 50 bịch nylon không màu chưa qua sử dụng và sim số điện thoại 0888515073. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart loại màn hình cảm ứng màu đen, kiểu máy Star 4; 01 cân điện tử màu đen có gắn 02 viên pin; Tiền Việt Nam là 650.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Trầm Thanh Đ. số tiền 788.000 đồng.
- Đối với bị cáo Trầm Thanh Đ.: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố nên không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên toà, người làm chứng Sơn Đăng Kh., Lâm Phước V., Trần Thanh Nh. và Sơn Minh S. vắng mặt. Xét thấy, những người này đã được toà án triệu tập hợp lệ, có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo và những chứng cứ đã thu thập nên sự vắng mặt của họ không trở ngại cho quá trình xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người người làm chứng.
Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Trầm Thanh Đ. thừa nhận khoảng 17 giờ ngày 28/4/2021, Đ. liên hệ một người tên Hương để mua bịch ma túy đá giá 3.000.000 đồng đem về nhà phân chia thành nhiều bịch ma túy nhỏ rồi điện thoại cho một số người nghiện ma túy mà Đ. quen biết để rủ những người này mua ma túy của Đ.. Tổng cộng trong ngày 28/4/2021 Đ. đã 03 lần bán ma túy cho những người nghiện tại nhà của mình ở số 54 đường Quốc lộ 1A, ấp Đ. C., xã Đ. T., huyện Mỹ Xuyên cụ thể như sau: lần thứ nhất Đ. bán bịch ma túy đá giá 300.000 đồng cho Trần Thanh Nh. vào khoảng 18 giờ ngày 28/4/2021; lần thứ hai cách lần thứ nhất một lúc Đ. bán bịch ma túy đá giá 150.000 đồng cho một người tên Khải Hoàng; lần thứ ba khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày Đ. bán bịch ma túy đá giá 200.000 đồng cho Sơn Đăng Kh. nhưng vừa nhận tiền và đưa ma túy xong cho Kh. thì bị bắt quả tang, tổng số tiền Đ. đã thu lợi khi bán 03 bịch ma túy như trên là 650.000 đồng. Nhận thấy, những lời khai trên của bị cáo là tự khai không bị ai ép cung bị cáo khai và được Cơ quan cảnh sát điều tra thực hiện lấy lời khai, hỏi cung theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, những lời khai đó phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/4/2021, Biên bản khám xét chỗ ở ngày 28/4/2021; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản kết luận giám định số: 54/GĐMT-PC09 ngày 04/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng; Phù hợp với lời khai những người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định hành vi của bị cáo Trầm Thanh Đ. đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trầm Thanh Đ. là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên truy tố bị cáo Trầm Thanh Đ. về tội“Mua bán trái phép chất ma tuý” tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trầm Thanh Đ. là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây tác động xấu đến sức khoẻ của con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự , an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Trầm Thanh Đ. phải bị xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe cho người khác, góp phần vào công tác phòng chống tội phạm.
Từ những nhận định trên đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trầm Thanh Đ. đã mua ma túy có chứa thành phần Methamphetamine tổng khối lượng 4,5114 gam từ một người không rõ địa chỉ tàng trữ, phân chia thành nhiêu bịch ma túy nhỏ để sử dụng, và bán cho nhiều người khác nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài . Nên bị cáo Trầm Thanh Đ. đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trầm Thanh Đ. thấy rằng: Bị cáo Trầm Thanh Đ. trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú về hành vi của mình gây ra, đây là tình tiết thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Thanh Đ. là người có nhân thân xấu, cụ thể năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về Tội "cố ý gây thương tích", bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2013 đã được xóa án tích và bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để quyết định một hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này.
Về xử lý vật chứng: Đối với 03 gói niêm phong chất ma túy hoàn lại sau khi giám định được đựng trong 03 phong bì màu trắng, có viền sọc màu xanh-đỏ, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 54/GĐMT-PC09, ngày 04 tháng 5 năm 2021”; 01 hộp bằng kim loại màu xanh-bạc, kích thước (10 x 6)cm; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 09 cm được hàn kín một đầu, một đầu được véc nhọn; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 09 cm; 01 bịch nylon không màu loại bịch Zip chỉ đỏ; 01 bình thủy tinh có nắp bằng nhựa màu đỏ được gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đen kích thước (16 x 13)cm; một sim số 0888515073 và 50 bịch nylon không màu. Nhận thấy, các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền Việt Nam 650.000 đồng là tiền mà bị cáo bán ma tuý có được; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart loại màn hình cảm ứng màu đen, kiểu máy Star 4; 01 cân điện tử màu đen có gắn 02 viên pin đã qua sử dụng và còn hoạt động mà bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma tuý là tiền và công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền Việt Nam 788.000 đồng tiền cá nhân bị cáo không phải là tiền bị cáo mua bán ma tuý có được do đó căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Trầm Thanh Đ..
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Trầm Thanh Đ. phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.
Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2, điểm b, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trầm Thanh Đ. phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Xử phạt: Bị cáo Trầm Thanh Đ. 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 28/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: Đối với 03 gói niêm phong chất ma túy hoàn lại sau khi giám định được đựng trong 03 phong bì màu trắng, có viền sọc màu xanh-đỏ, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 54/GĐMT-PC09, ngày 04 tháng 5 năm 2021”; 01 hộp bằng kim loại màu xanh-bạc, kích thước (10 x 6) cm; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 09 cm được hàn kín một đầu, một đầu được véc nhọn; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 09 cm; 01 bịch nylon không màu loại bịch Zip chỉ đỏ; 01 bình thủy tinh có nắp bằng nhựa màu đỏ được gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh; 01 túi vải màu đen kích thước (16 x 13)cm; một sim số 0888515073; 50 bịch nylon không màu.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền Việt Nam 650.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart loại màn hình cảm ứng màu đen, kiểu máy Star 4; 01 cân điện tử màu đen có gắn 02 viên pin đã qua sử dụng và còn hoạt động.
- Trả lại cho Trầm Thanh Đ. số tiền 788.000 đồng.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 6 năm 2021)
3. Về án phí: Buộc bị cáo Trầm Thanh Đ. phải án chịu phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Công an tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - THA huyện Mỹ Xuyên; - CQ CSĐT-CA huyện Mỹ Xuyên; - Bị cáo - Lưu hồ sơ vụ án. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Toàn |