vanban.org

Bản án 38/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 22/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Đình S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Đình S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 09/4/2021. Tịch thu tiêu hủy 01 cây kim loại tròn, kích thước 2,5cm x 1,5m, một đầu nhọn; 01 cây mã tấu dài 55cm (cán bằng gỗ, kích thước 16cm x 3cm; lưỡi bằng kim loại, kích thước 39cm x 5,5cm)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Đình sáu - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Đình S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HT
TỈNH BT
Bản án số: 38 /2021/HSST
Ngày: 22/7/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ph Đ Kh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình H và ông Huỳnh Quốc Th.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Th – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HT.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Ng X C - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo;

Lý Đình S (tên gọi khác: S điên), sinh năm: 1978, tại Q Ng;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 4, thị trấn TN, huyện HT, tỉnh BT.

- Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

- Cha: Lý Đình Ng (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1930. Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn TN, huyện HT, tỉnh BT.

Gia đình có 11 anh, chị em; bị cáo là con thứ 10;

- Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1990;

- Con: Có 01 con sinh năm 2014.

- Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh BT xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 03 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2015/HSST ngày 16/9/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2019, hiện chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Có 3 tiền sự;

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01, ngày 10/01/2020 của Ủy ban nhân dân TT. TN, huyện HT đã xử phạt Lý Đình S 2.000.000 đồng về hành vi “gây rối, cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức”.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 150, ngày 24/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện HT đã xử phạt Lý Đình S bị 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23, ngày 28/8/2020 của Công an TT. TM, huyện HT đã xử phạt Lý Đình S 750.000 đồng về hành vi “đánh nhau”.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 79/HSPT ngày 26/8/1999, Lý Đình S bị Tòa án nhân dân tỉnh BT xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985, hiện đã được xóa án tích.

+ Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 94/HSST ngày 16/12/2002, Lý Đình Sáu bị Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh BT xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 104 và khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999, hiện đã được xóa án tích.

+ Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 11/3/2003, Lý Đình S bị Tòa án nhân dân huyện HTN, tỉnh BT xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, hiện đã được xóa án tích.

+ Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 43/2009/HSST ngày 26/3/2009, Lý Đình Sáu bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 104 và khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2012, hiện đã được xóa án tích.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 124, ngày 04/5/2015 của Công an huyện HT, đã xử phạt Lý Đình S 4.000.000 đồng về hành vi “gây rối trật tự công cộng”.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 183, ngày 09/11/2020 của Ủy ban nhân dân huyện HT, đã xử phạt Lý Đình S 4.000.000 đồng về hành vi “gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo Lý Đình S bị bắt tạm giữ vào ngày 09/4/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện HT.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Võ Ngọc Q, sinh năm 1979 (vắng mặt)

và bà Lý Thị N, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn TN, huyện HT, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 02/11/2020, sau khi đi nhậu về, Lý Đình S đã lấy 05 cây dao bằng kim loại bỏ vào trong túi vải và 01 cây mã tấu bằng kim loại mang theo đi tìm Nguyễn Phúc N để đánh trả thù N vì mâu thuẩn trước đó. Do không có xe đi nên khoảng 00 giờ ngày 03/11/2020, Sáu qua nhà chị Lý Thị N (là chị ruột S) tại khu phố 4, thị trấn TN để hỏi mượn xe, Sáu đứng ngoài cổng la hét gọi chị N ra mở cửa nhưng vì sợ S vào nhà gây chuyện nên chị N không trả lời và đi ra phía sau vườn tránh mặt, còn anh Võ Ngọc Q (chồng chị N) cùng con trai vào trong phòng ngủ chốt cửa lại. Không thấy ai ra mở cửa, S tức giận dùng cây mã tấu chặt phá ổ khóa cổng để mở cửa vào trong thì cây mã tấu bị gãy làm đôi nên S ném xuống đất, rồi về nhà lấy 01 cây kim loại dài 1,5m đi vòng ra phía sau nhà chị N để phá cửa sau vào trong nhưng cửa bị hư sẵn nên S đạp cửa xông vào trong nhà, dùng cây kim loại nêu trên đập phá 02 cánh cửa gỗ của hai phòng ngủ làm 02 tấm kính của hai cánh cửa này bị bể (mỗi tấm có kích thước 0,3cm x 18cm x 34cm), anh Q liền mở cửa xông ra giật lấy cây kim loại, khống chế bắt giữ S và báo Công an TT. TN đến giải quyết. Quá trình điều tra, Lý Đình S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện HT xác định thì 02 tấm kính nêu trên có trị giá 100.000 đồng.

* Về phần vật chứng gồm:

- 01 cây kim loại tròn, kích thước 2,5cm x 1,5m, một đầu nhọn.

- 01 cây mã tấu dài 55cm (cán bằng gỗ, kích thước 16cm x 3cm; lưỡi bằng kim loại, kích thước 39cm x 5,5cm), mũi nhọn, đã bị gãy làm đôi.

- 05 cây dao mũi nhọn, mỗi cây dài 30cm (đều có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi bằng kim loại có kích thước 20cm x 5cm).

- 01 túi vải màu xanh – đen (dạng túi đựng cần câu cá).

* Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu Lý Đình S bồi thường dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh BT truy tố bị cáo Lý Đình S về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lý Đình S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, như nội dung Cáo trạng; Đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lý Đình S từ 18 đến 24 tháng tù.

* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và nhất trí với các tình tiết vụ án và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện HT đã viện dẫn trong Cáo trạng. Bị cáo không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Ý kiến của người bị hại: Không yêu cầu bồi thường dân sự, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, ông Võ Ngọc Q. Tuy nhiên, ông Q đã có trình bày lời khai trong quá trình điều tra, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên sự vắng mặt ông Q không ảnh hưởng đến việc xét xử.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sơ xác định: Bị cáo Lý Đình S là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; Thế nhưng, bất chấp quy định pháp luật, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, cụ thể: Vào khoảng 00 giờ ngày 03/11/2020, Lý Đình S qua nhà chị Lý Thị N (là chị ruột S) tại khu phố 4, thị trấn TN để hỏi mượn xe; Sáu đứng ngoài cổng la hét gọi chị N ra mở cửa nhưng vì sợ Lý Đình S vào nhà gây chuyện nên chị N không trả lời và đi ra phía sau vườn tránh mặt, còn anh Võ Ngọc Q (chồng chị N) cùng con trai vào trong phòng ngủ chốt cửa lại. Không thấy ai ra mở cửa, S tức giận dùng cây mã tấu chặt phá ổ khóa cổng để mở cửa vào trong thì cây mã tấu bị gãy làm đôi nên Sáu ném xuống đất, rồi về nhà lấy 01 cây kim loại dài 1,5m đi vòng ra phía sau nhà chị Năm để phá cửa sau vào trong nhưng cửa bị hư sẵn nên S đạp cửa xông vào trong nhà, dùng cây kim loại nêu trên đập phá 02 cánh cửa gỗ của hai phòng ngủ làm 02 tấm kính của hai cánh cửa này bị bể.

Theo Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện HT xác định thì 02 tấm kính nêu trên có trị giá 100.000 đồng; Tuy nhiên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2015/HSST ngày 16/9/2015, Lý Đình S đã bị Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh BT xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 03 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nên hành vi nêu trên của bị cáo đã các yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện HT truy tố bị cáo Lý Đình S về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân có 01 tiền án (chưa được xóa án tích) nhưng nay lại tiếp tục phạm tội nên xác định lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra, bị cáo có 03 tiền sự và có nhiều lần vi phạm pháp luật khác nhưng không lấy đó làm bài học để tự giác tu dưỡng, rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật mà còn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Qua thu thập lý lịch, quá trình hoạt động của bị cáo đã thể hiện nhân thân bị cáo rất xấu, liên tục vi phạm pháp luật, thể hiện sự bất chấp, xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm khắc nhằm trừng trị, răn đe và giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về phần vật chứng gồm: 01 cây kim loại tròn, kích thước 2,5cm x 1,5m, một đầu nhọn; 01 cây mã tấu dài 55cm (cán bằng gỗ, kích thước 16cm x 3cm; lưỡi bằng kim loại, kích thước 39cm x 5,5cm), mũi nhọn, đã bị gãy làm đôi; 05 cây dao mũi nhọn, mỗi cây dài 30cm (đều có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi bằng kim loại có kích thước 20cm x 5cm); 01 túi vải màu xanh – đen (dạng túi đựng cần câu cá). Đây là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Lý Đình S phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Đình S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Đình S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 09/4/2021.

- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kim loại tròn, kích thước 2,5cm x 1,5m, một đầu nhọn; 01 cây mã tấu dài 55cm (cán bằng gỗ, kích thước 16cm x 3cm; lưỡi bằng kim loại, kích thước 39cm x 5,5cm), mũi nhọn, đã bị gãy làm đôi; 05 cây dao mũi nhọn, mỗi cây dài 30cm (đều có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi bằng kim loại có kích thước 20cm x 5cm); 01 túi vải màu xanh – đen (dạng túi đựng cần câu cá); Hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/6/2021.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Đình S phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, người bị hại Lý Thị N biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, Võ Ngọc Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. * Nơi nhận:

Cỡ chữ