- Tranh chấp gì? án hình sự — "HÀ ĐÌNH T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 38/2021/HSST Ngày 09 - 4 -2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Nguyễn Minh Tuấn
2. Ông Vũ Quốc Phòng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2021/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2021 đối với:
* Bị cáo: Hà Đình T, sinh năm 1996 (tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Thôn Th, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D và bà Ngô Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2020, đến ngày 29/12/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Nhàn - Trợ giúp viên pháp lý – T tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam, vắng mặt, nhưng có gửi Bản luận cứ bảo vệ cho bị cáo Hà Đình T đến phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trần Anh T, sinh năm 1993; vắng mặt.
+ Bà Lại Thị H, sinh năm 1964; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn x, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1985, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 23/12/2020 tại tổ dân phố A, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Tổ công tác phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam tuần tra kiểm soát phát hiện Hà Đình T điều khiển xe mô tô BKS: 90B2 - 447.xx có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ: Thu trong túi áo khoác phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động Philip được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 tờ tiền trị giá 10.000 đồng; 01 xe mô tô BKS: 90B2 - 447.xx.
Hà Đình T đã khai nhận chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc là ma túy, mua về sử dụng. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam tiến hành lập biên bản, thu giữ toàn bộ tang vật và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Đình T, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Quá trình điều tra, Hà Đình T khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/12/2020 T đang ở nhà thì có người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại gọi điện hỏi T có mua ma túy không. T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô BKS 90B2 - 447.xx đến khu vực cây xăng C thuộc phường H, thị xã D mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của người đàn ông trên về sử dụng. T cầm gói ma túy này cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô 90B2 - 447.xx đi về thì bị Phòng CSGT Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và lập biên bản theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 257/PC09 - MT ngày 28/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,120g; loại Heroine.
Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 26/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Hà Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hà Đình T mức án từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và miễn án phí cho bị cáo.
* Bà Phạm Thị Nhàn thông qua Bản luận cứ gửi tới phiên tòa bào chữa cho bị cáo với nội dung, nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo quy định, miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo nhất trí bài bào chữa, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về lao động với gia đình, ngoài ra không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 23/12/2020, tại tổ dân phố A, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Phòng CSGT Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang Hà Đình T tàng trữ trái phép 01 gói ma túy là Heroine, có khối lượng 0,120 gam để sử dụng. Phòng CSGT Công an tỉnh Hà Nam đã bàn giao toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết theo thẩm quyền.
Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Đình T gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc, thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên, nhận thấy về tính chất, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nghiêm trọng. HĐXX cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bản thân là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo T khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực cây xăng C thuộc phường H, thị xã D nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với xe mô tô 90B2 - 447.xx: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của bà Lại Thị H cho con trai là anh Trần Anh T mượn xe để đi lại. Sau đó anh T cho bị cáo T mượn. Bà Hoàn, anh T đều không biết bị cáo T dùng chiếc xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã trả lại chiếc xe 90B2 - 447.xx cho bà H nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 phong bì niêm phong số 257/PC09-MT là mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam thuộc vật cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Philip là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 10.000đ thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 257/PC09-MT;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại.
- Trả lại bị cáo Hà Đình T số tiền 10.000đ (Mười nghìn) đồng.
Toàn bộ đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 29/3/2021(riêng số tiền đã được chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 29/3/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hà Đình T.
Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Đông |