vanban.org

Bản án 38/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH NHAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 38/2021/HS-ST
Ngày 12/8/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Tỵ

2. Bà Vũ Thị Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án huyện Quỳnh Nhai.

Đại diện VKSND huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2021/TLST - HS ngày 14 tháng 7 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo.

Họ và tên: Lò Văn M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/02/1973; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Lò Văn S, sinh năm 1949 và bà Lò Thị O, sinh năm 1944; Bị cáo có vợ là Lò Thị P và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Năm 2018 TAND huyện Quỳnh Nhai ra Quyết định đưa đi cai nghiện tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 27 tháng 11 năm 2020, tính đến thời điểm phạm tội tàng trữ trái phép lần này bị cáo chưa được xóa việc xử lý hành chính theo Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Nhân thân:

Năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 30 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản của công dân; Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 30 tháng tù giam về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Năm 2009 UBND huyện Quỳnh Nhai ra Quyết định đưa đi cai nghiện tại TTGD-LĐ tỉnh Sơn La nay là Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Ba tiền án và một tiền sự nêu trên đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06.4.2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 06.4.2021, tại khu vực bản P, xã M, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Tổ Công tác của đội Cảnh sát hình sự kinh tế ma túy Công an huyện Quỳnh Nhai phối hợp với Công an xã M đang làm nhiệm vụ, đấu tranh phòng chống ma túy thì phát hiện một đối tượng đang đi bộ ngoài đường quốc lộ 279 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên tổ công tác đã áp sát yêu cầu kiểm tra, qua giải thích đối tượng đã tự giác lấy ở vị trí túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc ra giao nộp 01 gói giấy bạc màu vàng và khai nhận đó là heroine. Tổ công tác đã kiểm tra người Lò Văn M nhưng không phát hiện thu giữ gì thêm và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Ngày 07/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng có tổng khối lượng là 0,2 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1 thu giữ của Minh gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 724/KLMT ngày 08/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy; Loại chất Heroine; Tổng khối lượng chất thu giữ được của Minh là 0,2 gam”. Mẫu gửi giám định ký hiệu là A1, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,12 gam.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn M khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 06/4/2021 M bắt xe khách từ bản P, xã M, huyện Q đến khu vực bản C, xã T, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản C M đã hỏi một người đàn ông tự giới thiệu tên là D và hỏi mua được 01 gói heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được M đã cất vào túi áo phía trước ngực trái đang mặc và bắt xe khách về đến bản P thì xuống xe, đang tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh về người đàn ông tên D bán Heroine cho M (theo lời khai của bị cáo) không biết địa chỉ cụ thể, không xác định được danh tính, do vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-QN ngày 12 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai truy tố bị cáo Lò Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Quỳnh Nhai phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lò Văn M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 (Hai mươi tư) đến 30 (Ba mươi) tháng tù;

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS

Đề nghị tich thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng: 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 phong bì đựng: Phong bình niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 0,12 gam heroine; 01 phong bì đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn M.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng);

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên Tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ, Kết luận giám định “Tổng trọng lượng chất thu giữ được của M là 0,2 gam là chất ma túy; Loại chất Heroine”. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lò Văn M đã mua, cất giữ 0,2 gam chất ma túy, loại chất Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân - bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về nhân thân: Năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 30 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản của công dân; Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 30 tháng tù giam về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Năm 2009 UBND huyện Quỳnh Nhai ra Quyết định đưa đi cai nghiện tại TTGD-LĐ tỉnh Sơn La nay là Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Ba tiền án và một tiền sự nêu trên của Lò Văn M tính đến thời điểm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy lần này đương nhiên được xóa tiền án và xóa tiền sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Năm 2018 TAND huyện Quỳnh Nhai ra Quyết định đưa đi cai nghiện tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La thời hạn là 24 tháng bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 27/11/2020. tính đến ngày phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy lần này, bị cáo chưa được xóa việc xử lý hành chính theo Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Từ sự phân tích trên hội đồng xét xử nhận thấy, cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, trọng lượng ma túy thu giữ của bị cáo; xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo

- Để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý ở địa phương.

Về hình phạt bổ sung - phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Xét thấy, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có tài sản giá trị lớn, thu nhập chính của bị cáo từ trồng trọt. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung

- phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì đựng: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 phong bì đựng: Phong bình niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 0,12 gam heroine; 01 phong bì đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn Minh.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lò Văn Minh vào ngày 06/4/2021, tại khu vực bản C, xã T, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Việc trao đổi mua ma túy diễn ra trên đường, không có người làm chứng, ngoài lời khai của bị cáo ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ khác. Do đó không đủ cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn M 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tich thu tiêu hủy:

01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi; Vật chứng Lò Văn M tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 phong bì đựng: 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau được dán kín bằng giấy niêm phong – Công an tỉnh Sơn La, số 046709.

01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi; Vật chứng Lò Văn M tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: phong bì niêm phong mẫu giữ giám định đã bóc mở, 01 túi ni lon màu trắng bên trong chất bột màu trắng thuộc mẫu giử giám định ký hiệu A1, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,12 gam. Mặt sau được dán kín bằng giấy niêm phong – Công an tỉnh Sơn La, số 051787.

01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi; Vật chứng Lò Văn M tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 phong bì đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn Minh. Mặt sau được dán kín bằng giấy niêm phong – Công an tỉnh Sơn La, số 006027.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/2021 ngày 13/7/2021 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Bị cáo Lò Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/8/2021./.

Cỡ chữ